^Back To Top
foto1 foto2 foto3 foto4 foto5

Một số yếu tố ảnh hưởng và nhóm giải pháp cho sự phát triển du lịch sinh thái ở Hà Tĩnh

Tóm tắt

Sản phẩm du lịch Hà Tĩnh ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng được nâng lên rất nhiều, đặc biệt một số sản phẩm du lịch có thế mạnh đã được khẳng định ở thị trường nội địa cũng như một số thị trường quốc tế thông qua các loại hình du lịch, trong đó có loại hình du lịch sinh thái. Du lịch sinh thái không chỉ tạo ra các sản phẩm du lịch mà còn đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo tồn thiên nhiên và môi trường. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái được tạo nên để đảm bảo cho du lịch Hà Tĩnh phát triển một cách bền vững. Thông qua việc nghiên cứu, phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch sinh thái, bài viết rút ra các đánh giá, nhận xét, từ đó để xuất các giải pháp nâng cao chất lượng du lịch sinh thái, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững du lịch Hà Tĩnh.

Từ khóa: Du lịch Hà Tĩnh, Du lịch sinh thái; Du lịch bền vững, Yếu tố ảnh hưởng; Tài nguyên du lịch, Môi trường.

Study on some factors affecting the development of eco-tourism in Ha Tinh province.

Summary:

Tourism products of Ha Tinh province are increasingly diversified with the quality improved significantly. In addition, some outstanding tourism products have been clearly positioned with various types of tourism in both domestic and international markets, including eco-tourism. Eco-tourism not only creates tourism products but also ensures sustainable tourism development associated with natural and environmental protection. The results of eco-tourism business activities are created to ensure the development of Ha Tinh province’s tourism in a sustainable way. According to the research and analysis of some factors affecting the development of ecotourism, the article draws the  reviews, comments, from that proposes measures to improve the quality of eco-tourism in order to promote sustainable development of Ha Tinh province’s tourism.

Keywords: Ha Tinh tourism, Eco-tourism, Sustainable tourism, Influencing factors; Tourism resources; Environment.

Đặt vấn đề:

Du lịch sinh thái đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển du lịch, tuy nhiên việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch sinh thái cho ngành du lịch Hà Tĩnh vẫn được đánh giá yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập, phát triển hiện nay. Đây cũng là vấn đề đặt ra trong việc xây dựng ngành du lịch tỉnh phát triển một cách bền vững. So với sự phát triển trong khu vực Bắc Trung Bộ, các trung tâm du lịch trong nước thì chất lượng sản phẩm du lịch sinh thái của du lịch Hà Tĩnh vẫn còn nhiều hạn chế. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng trên, theo ý kiến chung của các chuyên gia do sản phẩm du lịch sinh thái hiện nay vừa thiếu về số lượng, lại vừa yếu về chất lượng, nên dẫn đến hiệu quả sản phẩm du lịch sinh thái còn thấp. Để tạo ra sản phẩm du lịch sinh thái có sức cạnh tranh cao thì chất lượng của sản phẩm du lịch sinh thái đóng vai trò hết sức quan trọng. Từ đó, cần có chiến lược phát triển sản phẩm du lịch sinh thái được quan tâm đúng mực, hợp lý thì mới duy trì được thương hiệu, chất lượng dịch vụ trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế. Hơn nữa, để du lịch sinh thái Hà Tĩnh phát triển một cách bền vững thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch sinh thái phải luôn giữ vai trò chủ đạo.

Cùng với sự phát triển chung của cả nước, du lịch Hà Tĩnh đã có sự phát triển đáng kể trong những năm qua và đạt được những kết quả đáng khích lệ với sự tăng lên rõ rệt của lượng du nội địa và quốc tế. Số liệu thống kê cho thấy ngành Du lịch tỉnh đã trải qua một giai đoạn tăng trưởng khá ấn tượng với sự mở rộng quy mô, cũng như sự nâng lên về cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ du lịch. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng gắn với quy hoạch và các khu, tuyến, điểm trên toàn tỉnh được chú trọng quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn. Hơn nữa, hệ thống doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực dịch vụ lữ hành, lưu trú, nhà hàng, vận chuyển, giải trí tăng lên nhanh chóng với chuỗi các sản phẩm du lịch hướng đến thị trường mới, cộng với lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp được tăng cường cả về số lượng và chất lượng trình độ chuyên môn. Những thành quả đạt được đó đã đánh dấu mốc quan trọng trong một giai đoạn phát triển ngành Du lịch Hà Tĩnh trước thềm hội nhập và phát triển trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy thực trạng phát triển du lịch Hà Tĩnh những năm qua vẫn còn nhiều hạn chế và chưa phát huy đúng với tiềm năng và nguồn lực vốn có, chưa thể hiện được đẳng cấp chất lượng, hiệu quả và đặc biệt mang tính bền vững.

Xuất phát từ tình hình chính trị, kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, và dựa trên thực trạng phát triển Hà Tĩnh trong thời gian qua, du lịch Hà Tĩnh được định hướng phát triển theo đường lối và chính sách rõ ràng. Phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế Hà Tĩnh nói riêng và Việt Nam nói chung. Phát triển du lịch, du lịch sinh thái phải đảm bảo hiệu quả bền vững, đảm bảo giữ gìn môi trường tự nhiên và xã hội. Khai thác các tiềm năng, lợi thế về tài nguyên du lịch và các yếu tố liên quan để phát triển du lịch toàn diện, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa số lượng, trước hết chú trọng phát triển du lịch biển, du lịch văn hóa lịch sử và du lịch sinh thái, đồng thời cần có chiến lược phát triển cả du lịch nội địa và quốc tế.

Trong khuôn khổ bài viết, tác giả không đề cập nhiều đến các vấn đề phát triển du lịch tỉnh nói chung mà chỉ đề cập một số vấn đề về các yếu tố ảnh hưởng đến loại hình du lịch sinh thái đảm bảo cho sự phát triển du lịch sinh thái Hà Tĩnh hiện tại và tương lai.

  1. Thực trạng hoạt động du lịch Hà Tĩnh

Trong những năm qua du lịch Hà Tĩnh đã đạt được những bước tăng trưởng nhất định được thể hiện số liệu qua các năm. Sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng được nâng lên rất nhiều, đặc biệt một số sản phẩm du lịch có thế mạnh của Hà Tĩnh đã được khẳng định rõ rệt trên bản đồ du lịch Việt Nam thông qua các loại hình du lịch như du lịch văn hóa - lịch sử - tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch cộng đồng, du lịch ẩm thực, đặc biệt loại hình du lịch sinh thái.

Cùng với sự phát triển chung của cả nước, du lịch Hà Tĩnh đã có những bước tiến nhảy vọt trong những năm qua và đạt được những kết quả đáng khích lệ với sự tăng lên rõ rệt của lượng khách quốc tế và nội địa. Năm 2010, Hà Tĩnh mới chỉ đón được 571.296 lượt khách, thì đến năm 2015 con số đó đã tăng lên đến 1.599.000, tăng 1,8 lần; Tuy nhiên, theo số liệu của Sở VH,TT&DL, năm 2018, tổng lượt khách du lịch đến Hà Tĩnh đạt 1.335.000 lượt, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 83,4% so với kế hoạch năm 2018. Trong đó, lượng khách nội địa đạt 1.313.560 lượt, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 83,4% so với kế hoạch năm 2018; Khách quốc tế đạt 21.440 lượt tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 85,8% so với kế hoạch năm 2018. Doanh thu du lịch năm 2010 đạt 234,20 tỷ, năm 2015 đạt 421,50 tỷ, tăng 80% so với năm 2010 và năm 2016 là 2000 tỷ đồng, bằng 47% doanh thu năm 2015, con số ấn tưởng về doanh thu năm 2018 là gần 4000 tỷ đồng. Du lịch Hà Tĩnh giai đoạn 2019 - 2025 ghi nhận sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ với hơn 1 triệu lượt khách năm 2019 thì đến năm 2022, hoạt động du lịch dịch vụ trên địa bàn tỉnh đang phục hồi nhanh chóng với lượng khách đón trong năm đạt 1,6 triệu lượt khách tham quan, nghỉ dưỡng, vượt 200% chỉ tiêu đặt ra trong cả năm 2022, trong đó, khách lưu trú nội địa đạt 319.225 lượt, khách lưu trú quốc tế đạt 10.376 lượt. Năm 2023 tỉnh đón hơn 3,36 triệu lượt khách tham quan, nghỉ dưỡng, tăng 110% so với cùng kỳ năm 2022, vượt 34% kế hoạch cả năm 2023, và khoảng 5 triệu lượt khách vào năm 2025 (Báo cáo tổng kết của Sở VHTHDL). Theo số liệu thống kê, ngành Du lịch Tỉnh đã trải qua một giai đoạn tăng trưởng khá ấn tượng với sự mở rộng quy mô và sự nâng lên về cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ du lịch. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng gắn với quy hoạch và các khu, tuyến, điểm trên toàn tỉnh được chú trọng quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn. Hơn nữa, hệ thống doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực lữ hành, lưu trú, nhà hàng, vận chuyển, giải trí tăng lên nhanh chóng với chuỗi các sản phẩm du lịch hướng đến thị trường mới, cộng với lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp được tăng cường cả về số lượng và trình độ chuyên nghiệp. Những thành quả đạt được đó đã đánh dấu mốc quan trọng trong một giai đoạn phát triển ngành Du lịch Hà Tĩnh trước thềm hội nhập và phát triển trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua vẫn còn nhiều hạn chế và chưa phát huy đúng với tiềm năng và nguồn lực vốn có, chưa thể hiện được đẳng cấp chất lượng, hiệu quả và đặc biệt mang tính bền vững.

Thực trạng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Hà Tĩnh cho thấy hoạt động du lịch sinh thái ở Hà Tĩnh trong thời gian gần đây đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, những kết quả đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Điều đó được thể hiện với lượng du khách đến với các điểm du lịch sinh thái mới chỉ chiếm khoảng 1 - 2% tổng số lượt khách du lịch đến Hà Tĩnh, doanh thu từ hoạt động du lịch sinh thái không đáng kề; Loại hình và sản phẩm du lịch sinh thái chưa phong phú, chất lượng không đồng đều, khả năng cạnh tranh thấp; Vẫn còn thiếu những khu du lịch sinh thái, thiếu sản phẩm du lịch sinh thái đặc sắc, có tầm cỡ và cạnh tranh trong khu vực và quốc tế làm điểm nhấn du lịch sinh thái Hà Tĩnh; Công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cho du lịch sinh thái vẫn chưa theo kịp yêu cầu đặt ra cả về số lượng và chất lượng, cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giỏi về ngoại ngữ ở cơ quan quản lý Nhà nước và tại các doanh nghiệp còn thiếu và yếu. Đội ngũ hướng dẫn viên du lịch sinh thái gần như chưa có mà chủ yếu là lực lượng hướng dẫn viên du lịch và các cán bộ kiểm lâm, nên chưa đáp ứng được nhu cầu của các hoạt động du lịch sinh thái, làm giảm sức hấp dẫn của các chương trình du lịch; Các hoạt động kinh doanh của các cơ sở lưu trú, các công ty lữ hành, các dịch vụ kèm theo khác vẫn còn mang tính tự phát, đối tượng phục vụ chưa rõ ràng, vẫn chưa chú ý bám theo các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái để tổ chức tour du lịch.

  1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các tuyến, điểm du lịch sinh thái.

2.1. Vị trí địa lý

Hoạt động du lịch mang tính đặc trưng, có thể phát triển được trong những điều kiện cho phép và tùy thuộc vào đặc điểm vị trí địa lý từng vùng để đưa đến tiềm năng, sắc thái du lịch khác nhau. Đó là nét đa dạng tạo nên những chương trình du lịch độc đáo của từng vùng, đích cuối cùng thu hút khách du lịch, tăng sự hiểu biết, tạo mối giao lưu văn hóa giữa các vùng miền. Vì vậy, khi xác định các tuyến, điểm du lịch sinh thái thì vị trí địa lý được xem như yếu tố cơ sở, tiền đề quan trọng được xem xét đầu tiên trong không gian lãnh thổ du lịch.

Đánh giá vị trí địa lý không chỉ xác định tọa độ, ranh giới lãnh thổ, các mối quan hệ với các ngành khác mà còn phải đánh giá ý nghĩa kinh tế của vị trí địa lý đối với sự phát triển của ngành du lịch, ngành du lịch sinh thái. Tức là phải xác định được vị trí tương đương đối của các điểm du lịch với các cửa khẩu quốc tế quan trọng, các thị trường khách du lịch lớn trong các vùng phụ cận, các tuyến giao thông chính, các bến cảng, sân bay, tàu, xe.

2.2. Tài nguyên du lịch sinh thái

Không giống các ngành dịch vụ khác, khi mà sự phân bố được quy định nhiều hơn bởi thị trường tiêu thụ, hoạt động du lịch, du lịch sinh thái có tính định hướng tài nguyên, liên quan mật thiết với sự phân bố tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đên sự hình thành tổ chức lãnh thổ du lịch như các điểm du lịch, tuyến du lịch, trung tâm du lịch và các vùng du lịch. Đặc biệt đối với du lịch sinh thái, loại hình du lịch gắn với tự nhiên và văn hóa bản địa thì tài nguyên du lịch sinh thái là một trong những yếu tố tác động trực tiếp không chỉ đến sự hình thành mà còn đến ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành tuyến, điểm du lịch sinh thái.

Tài nguyên du lịch sinh thái có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các tuyến, điểm được thể hiện ở một số khía cạnh như quy mô hoạt động du lịch sinh thái ở một lãnh thổ được xác định trên cơ sở sự phong phú, đa dạng, đặc sắc và độc đáo của nguồn tài nguyên du lịch sinh thái; Tài nguyên du lịch sinh thái cũng quyết định đến tính nhịp điệu và sức hấp dẫn của các tuyến, điểm du lịch sinh thái. Số lượng tài nguyên du lịch vốn có, chất lượng và mức độ kết hợp các tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển các tuyến, điểm du lịch của lãnh thổ đó. Nơi nào có nhiều tài nguyên có chất lượng cao, thì nới đó có nhiều hệ sinh thái độc đáo, đặc sắc, có sức hấp dẫn khách du lịch lớn và có mức độ kết hợp các tài nguyên du lịch sinh thái cao, sẽ tạo nên những tuyến, điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, thu hút khách du lịch và đem lại hiệu quả kinh tế cao. 

2.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch sinh thái

Đối với sự phát triển du lịch, du lịch sinh thái thì cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là những yếu tố đảm bảo biến những tiềm năng của tài nguyên du lịch trở thành các sản phẩm du lịch hiện thực.

Đối với ngành du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch là yếu tố then chốt cho việc hình thành và phát triển các tuyến, điểm du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch về ăn, ở, đi lại và một số nhu cầu khác của khách du lịch. Trên cơ sở đó, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra và hiện thực hóa các sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Vì vậy, muốn hình thành và phát triển các tuyến, điểm du lịch cần quan tâm đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch phục vụ du lịch bao gồm nhiều thành phần như cơ sở lưu trú, nhà hàng, dịch vụ du lịch, cơ sở thể dục thể thao, vui chơi giải trí, cơ sở y tế.

Bên cạnh hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống cơ sở hạ tầng cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển các tuyến, điểm du lịch. Cơ sở hạ tầng là những phương tiện vật chất của toàn xã hội, được xây dựng để phục vụ nhân dân địa phương, hổ trợ các ngành kinh tế, trong đó có ngành du lịch. Cơ sở hạ tầng bao gồm mạng lưới và phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới điện, hệ thống cấp thoát nước và những thành phần khác liên quan.

Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng là điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo nhu cầu đi lại tham quan, nhu cầu giao lưu trong nước và quốc tế, phục vụ như cầu sinh hoạt hằng ngày của du khách cũng như các hoạt động phục vụ kinh doanh du lịch. Vì vậy, khi quy hoạch các tuyến, điểm du lịch cần quan tâm nhiều đến hệ thống này, coi đây là tiêu chí quan trọng để hình thành các tuyến, điểm du lịch.

Như vậy có thể thấy đối với hoạt động du lịch nói chung, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng nói riêng là yếu tố không thể xem xét đến khi hình thành và phát triển du lịch trên một lãnh thổ nhất định. Tuy nhiên, đối với du lịch sinh thái - loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với thiên nhiên, về với thiên nhiên, có đi kèm các hoạt động bảo tồn và giáo dục bảo vệ môi trường, bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên đặc sắc, độc đáo nhưng lại rất nhạy cảm thì việc phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phải luôn chú trọng đến việc bảo tồn tài nguyên, giảm thiểu mức độ tác động nhất của con người đến tự nhiên.

  1. Tài nguyênphát triển loại hình du lịch sinh thái

3.1.1. Tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên

Môi trường cho sự tồn tại và phát triển của các loài sinh vật (sinh thái cảnh) hay các điều kiện sinh thái có liên quan chặt chẽ đến lịch sử hình thành và vị trí của lãnh thổ. Những đặc điểm cơ bản về lịch sử hình thành lãnh thổ, vị trí địa lý và sự đa dạng của các điều kiện địa lý đã tạo ra sự phong phú, đa dạng và có tính chất pha trộn của hệ sinh thái. Đây chính là cơ sở để tạo nên tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc, độc đáo, làm tiền đề cho sự hình thành và phát triển các tuyến, điểm du lịch sinh thái tỉnh Hà Tĩnh.

Một số hệ sinh thái điển hình ở Hà Tĩnh với hệ sinh thái rừng đa dạng với các khu vực chính Vườn quốc gia Vũ Quang, Khu bảo tồn thiên nhiên hồ Kẻ Gỗ, đây là những khu vực được quy hoạch nhằm đảm bảo thực hiện tốt công tác đa dạng sinh học và đồng thời cũng trở thành nguồn thiên nhiên quan trọng cho du lịch sinh thái Hà Tĩnh. Hệ sinh thái đất ngập nước với hệ sinh thái rừng ngập mặn điển hình Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng vừa tạo ra cảnh quan môi trường đẹp, có tác dụng bảo vệ an toàn các tuyến đê ven sông, biển, vừa là nơi trú ngụ của nhiều loài động thực vật quý hiếm. Vì vậy nơi đây rất thuận lợi cho việc hình thành các điểm du lịch tham quan khảo sát nghiên cứu khoa học với hệ sinh thái vùng cửa sông, ven biển.

Cảnh quan tự nhiên gắn với thủy văn gồm sông ngòi, Hà Tĩnh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, nhiều sông lớn nhỏ chảy qua, nổi bật nhất là các sông thuộc hệ thống sông Cả (Lam Giang) như sông La, sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Trươi, cùng với các sông như sông Rào Cái, góp phần tạo nên hệ thống lưu vực sông đa dạng. Sông ngòi chính là nơi hội tụ, hình thành và phát triển của văn hóa Hà Tĩnh, mà tiêu biểu dòng sông Lam Giang thơ mộng, một dải lụa dát vàng tô điểm cho từng vùng, từng cảnh giúp phát triển du lịch tỉnh.  Hà Tĩnh có rất nhiều hồ, suối và khe nước đẹp, nổi bật như Hồ Kẻ Gỗ (hồ nhân tạo lớn), Hồ Thiên Tượng, Khe suối Rào Àn (Hương Sơn), Thác Vũ Môn (Hương Khê), Khe Tràng Vưng (Nghi Xuân), tạo nên cảnh quan thiên nhiên đa dạng, xanh mát, là điểm đến du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng lý tưởng với nhiều thác ghềnh, vực nước trong lành và hệ động thực vật phong phú. 

Cảnh quan tự nhiên gắn với địa hình đồi núi là dạng địa hình chủ yếu của Hà Tĩnh. Các loại địa hình độc đáo kết hợp với các yếu tố tự nhiên khác đã tạo cho Hà Tĩnh có tiềm năng to lớn để hình thành và phát triển các tuyến, điểm du lịch sinh thái. Hà Tĩnh có nhiều bãi biển đẹp, nước sạch, sóng không lớn, độ sâu thoải, độ mặn vừa phải rất thuận lợi để phát triển du lịch. Đây là điều kiện tốt để du lịch Hà Tĩnh mở rộng và phát triển về phía đông, hình thành và phát triển các tuyến du lịch biển trong nội tỉnh, quốc gia và quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ.    

3.1.2. Tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn

Tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn bao gồm những nét văn hóa truyền thống với các hoạt động văn hóa nghệ thuật cho đến cả những sinh hoạt đời thường, những phương tiện đi lại, các mối quan hệ cộng đồng làng xã, tập tục của người địa phương và phong tục liên qua khác, đều là những yếu tố thu hút du khách, từ đó mang đến nhu cầu hỏa nhập với người dân bản địa. Tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn được chia thành hai nhóm chính nhóm các hệ sinh thái nông nghiệp điển hình và nhóm văn hóa bản địa.

Các hệ sinh thái nông nghiệp điển hình ở Hà Tĩnh, có đủ các dạng địa hình từ miền núi, trung du, đồng bằng đến ven biển với nhiều loại đất khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền nông nghiệp với cơ cấu cây trồng vật nuôi đa dạng, có nhiều loại có giá trị cao. Hệ sinh thái nông nghiệp giữ vị trí quan trọng ở Hà Tĩnh, chiếm gần 75% diện tích lãnh thổ. Nhóm hệ sinh thái nông nghiệp được chia thành 3 phân hệ: Phân hệ đồng ruộng (hay phân hệ trồng trọt), phân hệ vườn làng (hay phân hệ quần cư nông thôn) và phân hệ sông, hồ, ao đầm (hay phân hệ thủy vực). Thông qua khảo sát một số mô hình trang trại hiệu quả, thì loại hình này cũng được xem đối tượng để nghiên cứu, hình thành các điểm du lịch như trang trại nuôi hươu sao, chim trĩ đỏ, nuôi nhím, nuôi lợn rừng, bồ câu. Các mô hình trang trại chăn nuôi gia súc hiệu quả, đặc biệt là các mô hình ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn, chăn nuôi hữu cơ và các mô hình tích hợp, kết hợp chăn nuôi và trồng trọt, chính là đối tượng tiềm năng để nghiên cứu và phát triển thành các điểm du lịch sinh thái trải nghiệm nông nghiệp tại Hà Tĩnh mang lại lợi ích kép về kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, ở Hà Tĩnh hiện nay nhóm hệ sinh thái nông nghiệp chủ yếu vẫn mang giá trị nông nghiệp, giá trị về du lịch, du lịch sinh thái thì vẫn còn ở dạng tiềm năng. Việc nghiên cứu đề xây dựng các sản phẩm du lịch, du lịch sinh thái vẫn còn nhiều hạn chế và để đưa vào khai thác du lịch còn cần nghiên cứu, khảo sát và đầu tư nhiều hơn nữa.

Văn hóa bản địa ở Hà Tĩnh rất đa dạng, phong phú có tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái. Với truyền thống văn hóa đấu tranh giải phóng dân tộc đã tạo ra cho mảnh đất này có một bề dày văn hoá lịch sử, một kho tàng văn hoá kiến trúc, mang đậm nét văn hoá về phong cách sống, ứng xử, quan hệ rất riêng của người dân Hồng Lam. Hà Tĩnh có nhiều công trình, di tích lịch sử văn hóa lưu danh anh hùng, danh nhân lịch sử, khoa bảng, các nhà khoa học, nhà văn hoá nổi tiếng như Nguyễn Công Trứ, Hoàng Xuân Hãn, Lê Văn Thiêm, Phan Huy Chú, Phan Huy Ích, Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Ngọc Phách, Huy Cận, Xuân Diệu, Đặng Tất, Đặng Dung, Nguyễn Biểu, Phan Đình Phùng, Lý Tự Trọng, Tổng bí thư Trần Phú, Hà Huy Tập, Đại thi hào Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa thế giới. Văn hóa bản địa gắn liền với Vườn Quốc gia Vũ Quang, chính điểm nhấn cho tài nguyên nhân văn phát triển du lịch sinh thái ở Hà Tĩnh là văn hóa bản địa gắn liền với Vườn Quốc gia Vũ Quang, được biết đến như một trong những trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất của Việt Nam. Nơi đây có các hệ sinh thái động vật, thực vật vô cùng đa dạng, phong phú, với những khu rừng nguyên sinh hoang sơ, kỳ vĩ. Việc đưa những bản sắc văn hóa đặc sắc vào phát triển du lịch sẽ góp phần cải thiện mức sống của người dân thông qua các hoạt động dịch vụ và bảo tồn. Vì vậy, phát triển du lịch sinh thái kết hợp với du lịch cộng đồng được xem xu hướng đi đúng cho phát triển du lịch Hà Tĩnh. Như vậy có thể thấy Vườn Quốc gia Vũ Quang không chỉ có những hệ sinh thái tự nhiên phong phú, đa dạng mà gắn bó với các hệ sinh thái tự nhiên, đó là kho tàng các di sản văn hóa độc đáo, quý báu của dân cư nơi đây. Đây là những nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là cơ sở cho sự hình thành các điểm, tuyến du lịch sinh thái của tỉnh Hà Tĩnh.

Di tích lịch sử và văn hóa Hà Tĩnh có 680 di tích lịch sử, văn hóa được xếp hạng, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt, 87 di tích cấp quốc gia và 591 di tích cấp tỉnh. Phần lớn các di tích được xếp hạng tại Hà Tĩnh là các di tích lịch sử văn hoá, trong đó nhóm di tích lịch sử, khảo cổ, công trình kiến trúc, đình chùa chiếm nhiều về số lượng. Đặc biệt, di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng Đại thi hào Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa thế giới có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống tài nguyên nhân văn của tỉnh và cũng là tài nguyên thu hút được nhiều lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan nhất.

  1. Thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch sinh thái.

4.1. Thuận lợi:

Vị trí địa lý được xem như một lợi thế cơ bản và quan trọng cho phát triển du lịch Hà Tĩnh để trở thành điểm du lịch lớn của khu vực Bắc Trung Bộ, trung tâm cảng vụ quốc tế giao lưu Đông - Tây, cửa ngõ quốc tế với các nước Lào, Thái Lan, Trung Quốc.

Hà Tĩnh có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng cả về tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn gồm biển, hải đảo, sông ngòi, rừng, hang động, thác nước, cảnh quan, danh lam thắm cảnh đẹp, di tích lịch sử văn hóa, công trình kiến trức, lễ hội, phong tục tập quán, làng nghề, đặc biệt với di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng Đại thi hào Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa thế giới và các khu di tích lịch sử cách mạng. Tiềm năng du lịch sinh thái Hà Tĩnh có thể khai thác phát triển mạnh khi kết hợp với các loại hình du lịch khác như tham quan, nguyên cứu, khảo sát, nghỉ dưỡng, tắm biển, thể thao, leo núi, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch cộng đồng.

Tài nguyên du lịch sinh thái tỉnh Hà Tĩnh không chỉ phong phú, đa dạng mà còn có giá trị khái thác rất lớn như vườn quốc gia Vũ Quang, Hố Kẻ Gỗ, Khu du lịch quốc gia biển Thiên Cầm, Cửa Hội và nhiều nơi khác. Đây được xem điều kiện để có thể tổ chức một số sản phẩm du lịch độc đáo như du thuyền ngược sông Giăng thăm các bản làng dân tộc Đàn Lai, du thuyền ngược xuôi sông Lam đến cửa biển thăm rừng bần Hưng Hòa, đi bộ tham quan trong vườn quốc gia, rừng tràm và các khu tuyến, điểm du lịch sinh thái khác. Do vậy, du lịch Hà Tĩnh hứa hẹn sẽ là những điểm du lịch sinh thái tiêu biểu, hấp dẫn, có sức thu hút lớn đối với khách du lịch không chỉ trong nước mà còn đối với du khách quốc tế.

Môi trường tự nhiên Hà Tĩnh nhìn chung vẫn đc duy trì ở mức cho phép, các hệ sinh thái tự nhiên vẫn còn bảo tồn tương đối nguyên sinh, với nhiều loại động thực vật đặc hữu các khu vực ô nhiễm môi trường dần dần được khắc phục; các tệ nạn được ngăn chặn đẩy lùi, ý thức của người dân đối với nhiệm vụ bảo vệ nguồn tài nguyên ngày càng được nâng cao, từ đó những yếu tố này đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn của các điểm du lịch nói chung và các tuyến, điểm du lịch sinh thái nói riêng của tỉnh Hà Tĩnh.

4.2. Khó khăn

Hà Tĩnh với nguồn tài nguyên du lịch nhiều về số lượng nhưng lại phân bổ không tập trung, số tài nguyên nổi trội, giá trị cao chưa nhiều. Thực tế cho thấy tiềm năng về du lịch sinh thái chủ yếu tập trung trong các khu bảo tồn, các khu rừng đặc dụng như vườn quốc gia Vũ Quang, khu bảo tồn thiên nhiên Hồ Kẻ Gỗ. Tuy nhiên, các khu bảo tồn này lại nằm ở vị trí địa lí không thuận lợi về giao thông và lại xa các trung tâm đô thị lớn.

Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch chưa đồng bộ, còn thiếu và yếu, đặc biệt phía tây Hà Tĩnh. Nhiều nơi hệ thống đã xuống cấp nghiêm trọng nên ảnh hưởng phần nào đến tính đa dạng của sản phẩm du lịch, du lịch sinh thái. Công tác quản lý các nguồn tài nguyên còn chồng chéo, sự phối hợp giữa ban quản lý các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên về vấn đề khái thác và phát triển tiềm năng du lịch sinh thái chưa đồng bộ chặt chẽ.

Điều kiện khí hậu khắc nghiệt, sự phân hóa sâu săc giữa các mùa, hiện tượng thiên nhiên thiên tai, bão lũ xảy ra, đã ảnh hưởng rất lớn đến việc khai thác tiềm năng du lịch sinh thái của tỉnh, tạo ra tính mùa vụ cho hoạt động du lịch. Xuất phát từ những hạn chế ở trên nên hiện nay các tuyến, điểm du lịch sinh thái ở Hà Tĩnh tuy được hình thành và đưa vào khai thác nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả rõ nét. Vấn đề khó khăn lớn nhất chính cơ sở hạ tầng ở các tỉnh miền núi phía tây Hà Tĩnh còn thiếu thốn và một số tuyến đường đã xuống cấp nghiêm trọng.

  1. Giải pháp thực hiện
    • Nhóm giipháp về chính sách và quản lý

5.1.1. Gii pháp về cơ chế chính sách

Hoàn thiện văn bản pháp lý của các địa phương về quản lý du lịch, đặc biệt các văn bản có liên quan đến luật du lịch, các Nghị định mới được ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho quản lý và phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng. Chủ động phối hợp hành động liên ngành và liên vùng để giải quyết những vấn đề có liên quan đến quản lý phát trển du lịch như đầu tư phát triển sản phẩm, xúc tiến, quảng bá du lịch, bảo tồn khai thác tài nguyên tự nhên, xã hội và mô trường, quản lý sử dụng đất, an ninh quốc phòng.

Cần có cơ chế chính sách đầu tư cho huy động tối đa các nguồn lực vốn, kinh nghiệm cho phát triển du lịch với phương châm nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, các thành phần kinh tế khác đầu tư kinh doanh. Thực hiện chính sách ưu tiên đầu tư cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng, các dịch vụ du lịch tại các vùng sâu, vùng xa nơi có tiềm năng du lịch sinh thái tại các bản làng dân tộc, khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo, Hương Sơn. Ngoài ra, cần có cơ chế chính sách thuế với ưu tên, miễn giảm thuế, không thu thuế, thu có giới hạn đối với doanh nghệp đầu tư các dự án phát triển du lịch sinh thái cho khu du lịch thái suối nóng Sơn Kim, khu du lịch thái Thác Vũ Môn, Vườn Quốc gia Vũ Quang.

5.1.2. Giải pháp về quy hoạch

Trên cơ sở quy hoạch du lịch tổng thể tỉnh cần nhanh chóng triển khai xây dựng quy hoạch riêng cho các điểm du lịch sinh thái cụ thể trên địa bàn phía tây tỉnh Hà Tĩnh. Đối với những điểm du lịch sinh thái đã xây dựng được quy hoạch chi tiết cần nhanh chóng có kế hoạch xúc tiến, quảng bá nhằm kêu gọi các nhà đầu tư dự án có tầm cỡ tại các khu du lịch sinh thái với các điểm du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Vũ Quang, Suối nước khoáng nóng Sơn Kim.

Tăng cường giám sát các dự án đầu tư trong khu vực đã được quy hoạch chi tiết về tiến độ, thiết kế và giám sát chặt chẽ về vấn đề môi trường. Cần có chế độ xử lý cưỡng chế đối với các công trình xây dựng lấn chiếm, công trình không phép, công trình sai thiết kế theo quy hoạch phát triển du lịch sinh thái. Sau mỗi giai đoạn, cần tiến hành khảo sát và đánh giá những điểm, tuyến du lịch sinh thái đã được đưa vào khai thác, để có những điều chỉnh hợp lý trong quy hoạch phù hợp với tình hình hiện tại. Bên cạnh đó, bổ sung kịp thời những cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch phục vụ du lịch còn thiếu tại các điểm, tuyến liên quan đến du lịch sinh thái. Tăng cường công tác khảo sát, đánh giá và xây dựng các điểm tuyến du lịch sinh thái mới nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của du khách khi đến với du lịch miền tây Hà Tĩnh. Nghiên cứu xây dựng các mô hình về phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng để bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển du lịch và góp phần xóa đói giảm nghèo tại các điểm tài nguyên miền tây Hà Tĩnh.

5.1.3. Tổ chức quản lý hoạt động tại các điểm, tuyến du lịch sinh thái

Tăng cường công tác kiếm tra, thanh tra các hoạt động kinh doanh du lịch, các điểm cung cấp dịch vụ cho khách du lịch đảm bảo tuân thủ pháp luật và các tiêu chuẩn về vệ sinh, môi trường dần dần tiến tới xóa bỏ các tệ nạn ăn xin, bán hàng rong và chèo kéo đeo bám khách làm ảnh hưởng đến môi trường và hình ảnh du lịch miền tây Hà Tĩnh.

Tỉnh cần yêu cầu sở ban ngành thống kê, đánh giá công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn, xây dựng kế hoạch, đề ra biện pháp cụ thể phù hợp với từng địa phương để khắc phục, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái. Đặc biệt đối với các xã miền tây Hà Tĩnh, địa bàn khó khăn về kinh tế, xã hội, một số địa bàn điểm nóng về vấn đề tội phạm, tệ nạn xã hội, nên việc nâng cao vai trò quản lý nhà nước rất cần thiết. Phối hợp các sở ban ngành thành lập các ban quản lý tại một số điểm du lịch sinh thái tiêu biểu với vườn quốc gia Vũ Quang, khu bảo tồn thiên nhiên Hồ Kẻ Gỗ, khu du lịch sinh thái Hồ Ngàn Trươi. Ngoài ra, cũng cần quan tâm tới việc hoàn thiện chính sách trong các khu bảo tồn, cụ thể chính sách đầu tư phát triển, hoạt động tái đầu tư và hổ trợ hoạt động phát triển cộng đồng dân cư vùng đệm cho tuyến, điểm du lịch sinh thái.

  • Nhóm huy động vốn

5.2.1. Huy động vốn

Từng bước thực hiện chính sách xã hội hóa đầu tư hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tại các di tích văn hóa, lịch sử, làng nghề, khu, điểm du lịch sinh thái mà nhà nước không thể đầu tư quản lý, nhằm nâng cao trách nhiệm, gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư đối với phát triển du lịch. Bên cạnh đó, cần tăng cường phân cấp và trao quyền tự chủ để địa phương chủ động hơn trong việc đầu tư, quản lý, điều hành khu điểm du lịch sinh thái. Thu hút FDI vào ngành du lịch địa phương đóng vai trò quan trọng cho ngành du lịch, nhất là du lịch sinh thái. Để hình thành và phát triển một điểm du lịch sinh thái thì nguồn vốn chủ yếu ban đầu sẽ do ngân sách nhà nước cung cấp, tuy nhiên để khai thác hết tiềm năng và đẩy mạnh hoạt động phát triển của các điểm, tuyến du lịch sinh thái thì cần thiết phải kêu gọi được nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài, đặc biệt nguốn vốn FDI. Hiện nay, có nhiều tổ chức quốc tế đã cũng cấp các nguồn tài trợ và hổ trợ cải cách hành chính, cải cách doanh nghiệp, khuyến khích phát triển khu vực tư nhân ở các nước đang phát triển. Do vậy, sở ban ngành du lịch địa phương có thể tiếp cận và khai thác nguồn ngân sách để tổ chức có hiệu quả tốt hơn, hơn nữa có thể huy động một phần từ nguồn tài trợ cho hoạt động xúc tiến đầu tư từ khu vực tư nhân.

5.2.2. Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch sinh thái 

Phát triển mạng lưới thông tin liên lạc hiện đại, đồng bộ, đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động du lịch sinh thái. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý các tuyến, điểm du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng để quảng bá hình ảnh và tiềm năng du lịch sinh thái của miền tây Hà Tĩnh đến với du khách trong nước và nước ngoài. Đặc biệt, có thể sử dụng hệ thông tin địa lý GIS để xây dựng các bản đồ số về các tuyến, điểm du lịch sinh thái để tra cứu, tìm kiếm thông tin vừa quản lý, hộ trợ phát triển du lịch sinh thái. Bên cạnh đó, xây dựng các mô hình đánh giá tác động của du lịch sinh thái đối với môi trường và ngược lại, đặc biệt ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Ngoài ra, nâng cấp các tổng đài, phù sóng di động toàn tỉnh, phối hợp phát triển du lịch với phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ internet tốc độ cao, truyền hình cáp, truyền hình kỹ thuật số.

Nâng cấp và hoàn chỉnh mạng lưới giao thông tuyến giao thông quốc gia, tuyến đường Hồ Chí Minh, tuyến đường liên tỉnh, xã, thôn và các tuyến đường phục vụ, khai thác tiềm năng du lịch, du lịch sinh thái. Xây dựng tuyến đường giao thông quốc phòng nối liền miền tây Hà Tĩnh, tuyến đường ven biển, liên tỉnh và quốc lộ để khai thác tài nguyên du lịch dạng tiềm năng. Bên cạnh đó, nâng cấp một số tuyến đường đến các điểm du lịch trọng yếu nối với các điểm du lịch nối với tuyến đường giao thông liên tỉnh. Ngoài ra, hoàn thiện các tuyến giao thông đường thủy sông La, sông Ngàn Phố, nâng cấp kết nối với hệ thống cảng biển Cửa Hội, tuyến du lịch đường thủy tiêu biểu Sông La, Cửa Hội nối với các điểm du lịch sinh thái, các xã miền tây Hà Tĩnh qua các nhánh sông. Đặc biệt, kết nối sân bay Vinh đủ tiêu chuẩn đón tiếp các máy bay vận tải cỡ lớn, mở thêm một số tuyến bay mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.

5.2.3. Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch sinh thái 

Cần đầu tư nâng số lượng cơ sở lưu trú, nhà hàng có trọng điểm tại các khu, điểm du lịch sinh thái đặc biệt các xã trọng điểm lớn Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh để phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch ngoại tỉnh, quốc tế đến trải nghiệm tham quan du lịch trên địa bàn miền tây Hà Tĩnh. Không ngừng phát triển số lượng các loại phương tiện du lịch chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu số lượng khách du lịch tham quan trải nghiệm du lịch các tuyến điểm du lịch sinh thái. Đầu tư xây dựng các trung tâm dịch vụ vui chơi giải trí có trọng điểm với quy mô lớn, gắn với các loại hình du lịch sinh thái nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí sau các chuyến tham quan khảo sát các khu tuyến điểm du lịch sinh thái.

  • Nhóm giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực

Tiến hành đào tạo một cách có hệ thống đối với các nhà quản lý địa phương và lực lượng lao động trong lĩnh vực du lịch sinh thái. Sở Ban Ngành du lịch có thể kết hợp với các trường đại học, trường nghề tuyển sinh các lớp đào tạo về du lịch sinh thái ngắn hạn, dài hạn, tùy theo từng tình huống, tùy theo khu, điểm du lịch. Bên cạnh đó, địa phương có thể gửi các nhà quàn lý, nhân viên nghiệp vụ, hướng dẫn viên đến các trung tâm đào tạo, thậm chí gửi đến một số nước phát trển mạnh du lịch sinh thái học tập kinh nghiệm.

Cần tổ chức những lớp tập huấn cho những nhà quản lý, nhân viên đối các khu bảo thiên nhiên, vườn quốc gia, không chỉ về công tác bảo tồn đa dạng sinh học mà còn hướng dẫn, tập huấn về du lịch sinh thái. Từ đó, có thể phối hợp với các nhà tổ chức hoạt động du lịch sinh thái đạt hệu quả cao tại các khu, điểm du lịch sinh thái. Tổ chức các lớp đào tạo cho hướng dẫn viên du lịch sinh thái, nguồn nhân lực này đóng vai trò rất quan trọng khi truyền tải các thông điệp về du lịch sinh thái. Vì vậy, hướng dẫn viên du lịch sinh thái vừa là người hướng dẫn có kiến thức hiểu biết chuyên sâu về sinh thái học, vừa là sứ giả, diễn giả về môi trường, cảnh quan thiên nhiên cho du khách. Ngoài ra, cần đào tạo thêm chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ kỹ sư, cử nhân sinh học môi trường, nhà sản xuất nông sản như những hướng dẫn viên du lịch sinh thái. Đặc biệt chú trọng đào tạo những người dân địa phương có khả năng để họ có thể trở thành những người hướng dẫn viên thực thụ cho hoạt động du lịch sinh thái. Để du lịch sinh thái phát triển có tính bền vững thì chính hoạt động du lịch sinh thái phải tạo ra được nguồn thu, sinh kế cho người dân bản địa sống trên mãnh đất của mình.

  • Nhóm giải pháp về bảo vệ môi trường

5.4.1. Bảo vệ môi trường tự nhiên

Nâng cao hiệu lực quản lý về môi trường du lịch tại các đểm du lịch, kiên quyết yêu cầu các cơ sở kinh doanh du lịch, dịch vụ nhà hàng, khách sạn phải tuân thủ Luật bảo vệ môi trường, xây dựng hệ thống thu gom xử lý nước thải, rác thải đảm bảo đạt tiêu chuẩn theo đúng quy định. Bên cạnh đó, cần có chế tài xử phạt đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường, cảnh quan đô thị và các khu, điểm du lịch sinh thái.

Cần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường du lịch sinh thái với việc nâng cao nhận thức về môi trường cho đội ngũ chuyên môn, lực lượng lao động, nhân viên công ty du lịch, lữ hành hoạt động trong ngành du lịch sinh thái. Tăng cường các hoạt động giáo dục môi trường tại các điểm du lịch sinh thái, đặc biệt tại vườn quốc ga Vũ Quang, khu bảo tồn thiên nhiên Hồ Kẻ Gỗ, khu du lịch sinh thái Thác Vũ Môn, rừng ngập mặn Cửa Sót. Các hoạt động giáo dục môi trường được thực hiện với việc phổ biến những thông tin quy định cần thiết trước khi tham quan các tuyến, điểm du lịch sinh thái; Vấn đề môi trường được lồng ghép trong hành trình tour du lịch thông qua lời diễn giải của hướng dẫn viên du lịch, hướng dẫn viên tại khu, điểm du lịch; Tăng cường bố trí tại khu, điểm du lịch sinh thái các bảng chỉ dẫn, sơ đồ điểm tham quan, thùng rác, khu vệ sinh, quy định cấm tại từng khu du lịch sinh thái; Tổ chức tham quan cảnh quan thiên nhiên trong khu du lịch sinh thái theo tính vượt trội của thành phần tự nhiên so với thành phần nhân tạo nhằm đáp ứng các yêu cầu công năng đơn thuần. Đây được xem như một công cụ giáo dục để nâng cao ý thức gìn giữ môi trường cho khách du lịch, nhà khoa học và dân cư địa phương.

Quản lý tốt cơ sở hạ tầng và môi trường ở những khu, điểm du lịch, khuyến khích hướng dẫn người dân và các cơ sở dịch vụ du lịch thu gom, phân loại rác một cách hợp lý, khoa học. Tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng giữ gìn vệ sinh môi trường sinh thái trong sạch để làm tăng thêm giá trị của cảnh quan môi trường. Tổ chức hệ thống giao thông trong khu du lịch sinh thái phải dựa vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, điểm du lịch đặc thù, hạn chế tới mức tối thiểu ảnh hưởng đến môi trường du lịch sinh thái.

5.4.2. Bảo vệ môi trường xã hội

Nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn của những người làm trong ngành du lịch sinh thái, gắn giáo dục môi trường với các chương trình đào tạo cho mọi đối tượng tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái. Xây dựng các công trình phục vụ du lịch sinh thái hài hòa với môi trường và mang dấu ấn của văn hóa bản địa nhằm nâng cao tính hấp dẫn, độc đáo của các chương trình du lịch sinh tháí. Nâng cao ý thức của người dân cũng như du khách trong việc giữ gìn, bảo tồn những di tích lịch sử, văn hóa, làng nghề truyền thống của mỗi địa phương nhằm hình thành những tour du lịch hấp dẫn độc đáo với nhiều loại hình sản phẩm đa dạng. Xây dựng các tuyến, điểm du lịch sinh thái gắn với các hoạt động văn hóa và bảo tồn đa dạng sinh học.

5.4.3. Nhóm gii pháp về xã hội

Cơ sở vật chất (infrastructure) phục vụ du lịch đóng vai trò quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm du lịch thông qua việc đánh gá, phân loại hệ thống cơ sở lưu trú, nhà hàng và các loại hình dịch vụ kèm theo; ban hành các quy định, quy chuẩn cụ thể, chặt chẽ về tiện nghi và chất lượng dịch vụ trong hệ thống các khách sạn, nhà hàng; thường xuyên tiến hành thanh tra, kểm tra để đảm bảo chất lượng các sản phẩm, dịch vụ phát triển đồng bộ. Ngoài ra, cần khuyến khích mở rộng các loại hình, khu vui chơi giải trí và các hoạt động thể dục, thể thao; mở rộng nhiều hơn nữa các điểm mua sắm, đặc biệt các cơ sở bán hàng lưu niệm với các sản phẩm, nông sản địa phương. Việc quan tâm đầu tư, nâng cấp các cơ sở vật chất kỹ thuật không chỉ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, mà còn góp phần thay đổi bộ mặt cảnh quan của điểm đến.

Tổ chức các chương trình du lịch tham quan, trải nghiệm, khám phá bản làng thông qua dịch vụ (Homestay) sinh sống với người dân. Đây được xem loại hình sản phẩm du lịch hấp dẫn, độc đáo thu hút khách du lịch, đặc biệt khách du lịch quốc tế đến với Hà Tĩnh, đồng thời góp phần xúc tiến, quảng bá, giới thiệu với thế giới những nét độc đáo của miền tây Hà Tĩnh nói riêng và Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, từng bước cải thiện đời sống về vật chất tinh thần, nâng cao dân trí, xóa bỏ hủ tục lạc hậu, các tệ nạn xã hội ra khỏi cộng đồng dân cư. Cần khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch sinh thái cho hoạt động tư vấn quy hoạch, phối hợp với các đoàn khảo sát, nghiên cứu, hướng dẫn viên du lịch sinh thái, cũng như sản xuất, bán các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và hàng nông sản địa phương có. Ngoài ra, các công ty du lịch, lữ hành, khách sạn, nhà hàng hổ trợ góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương lâu dài, nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào, dân tộc bản địa ở các điểm du lịch sinh thái.

5.4.4. Nhóm gii pháp về xúc tiến, quảng bá du lịch sinh thái

Cần đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá tiềm năng du lịch sinh thái miền tây Hà Tĩnh với các sản phẩm đặc thù, các tour, tuyến du lịch sinh thái đến thị trường trong nước và quốc tế. Tổ chức mở các công ty, văn phòng, đại lý du lịch, lữ hành trong nước, khu vực và quốc tế khảo sát mở tour du lịch sinh thái, xúc tiến, mở rộng, làm cho du khách hiểu rõ hơn về tiềm năng thị trường du lịch sinh thái miền tây Hà Tĩnh.

Sở Ban Ngành du lịch cần tăng cường xúc tiến, quảng bá du lịch sinh thái miền tây Hà Tĩnh với mọi hình thức, phương tiện. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu liên kết phát triển mới các sản phẩm tour, tuyến du lịch như Tour tham quan hệ sinh thái vườn quốc ga Vũ Quang; Tổ chức các tour du lịch chuyên đề nghên cứu khoa học hệ sinh thái hệ động thực vật vườn quốc gia; Tổ chức, vận hành du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Vũ Quang, khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, khu bảo tồn thiên nhiên Hồ Kẻ Gỗ; Liên kết phát triển du lịch sinh thái gắn với du lịch nghỉ dưỡng tại suối Suối khoáng nóng Sơn Kim, thác Vũ Môn; Tổ chức chương trình du lịch cộng đồng tại Hương Bình;Tổ chức các tuyến du lịch miền gắn với du lịch tỉnh, vùng với vườn quốc ga đến Lào, Thái Lan qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo; Gắn kết tuyến du lịch Nghi Xuân - Can Lộc - Thành Sen, Kỳ Anh - Cẩm Xuyên - Thành Sen; Thành Sen - Can Lộc - Đức Thọ - Hương Sơn - Cánh đồng Chum - Luang Prabang (Lào) - Các Tỉnh Đông Bắc Thái Lan.

Cần tham gia các hội chợ, hội thảo du lịch trong nước và quốc tế để các doanh nghiệp, cơ quan quản lý xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch sinh thái. Từ đó, thông qua các  doanh nghệp, công ty lữ hành nội địa và quốc tế để giới thiệu, bán sản phẩm du lịch, kết nối tour, tuyến du lịch đến với tài nguyên du lịch miền tây Hà Tĩnh. Khuyến khích, mời gọi các công ty du lịch, lữ hành trong nước và quốc tế đặt văn phòng đại diện, chi nhánh của mình tại Hà Tĩnh. Ngoài ra, triển khai rộng rãi quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng truyền thanh, truyền hình, internet từ địa phương, trung ương và quốc tế.

  1. KẾT LUẬN

Từ việc phân tích thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và nhóm giải pháp đề xuất, có thể khẳng định rằng du lịch sinh thái giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch bền vững của tỉnh Hà Tĩnh. Với lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên tự nhiên phong phú, hệ sinh thái đa dạng cùng chiều sâu văn hóa bản địa, Hà Tĩnh có nhiều điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển các tuyến, điểm du lịch sinh thái đặc sắc. Tuy nhiên, quá trình phát triển loại hình du lịch này vẫn đang ch phân bố chưa tập trung, hạ tầng giao thông và cơ sở vật chất k ịu tác động của nhiều hạn chế như tài nguyên ỹ thuật còn chưa đồng bộ, công tác quản lý còn chồng chéo, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế và hoạt động xúc tiến quảng bá chưa thật sự hiệu quả.

Để phát triển du lịch sinh thái Hà Tĩnh theo hướng bền vững, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, quy hoạch, huy động vốn, đầu tư hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, tăng cường vai trò cộng đồng địa phương cũng như đẩy mạnh xúc tiến quảng bá. Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ góp phần khai thác hợp lý tiềm năng, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch sinh thái, tăng sức cạnh tranh của du lịch Hà Tĩnh và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội địa phương trong giai đoạn mới.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái - Những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam,NXB Giáo dục.
  2. Phạm Hồng Long (2013), Tài liệu chương trình phát triển du lịch sinh thái, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hà Nội.
  3. Phạm Trung Lương (2008), Cơ sở khoa học phát triển du lịch đảo ven bờ vùng du lịch Bắc Trung Bộ,đề tài khoa học cấp ngành, Hà Nội.
  4. Đào Thị Hoàng Mai (2015), Du lịch nông thôn từlý luận đến thực tiễn,NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
  5. Hồ Thúy Ngọc (Chủ biên) (2016), Khai thác tài sản trí tuệ đến phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam,NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.
  6. Nguyễn Trọng Nhân (2011), Du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Galapagos và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam,Tạp chí khoa học số 5(153)-2011, trường Đại học Cần Thơ.
  7. Võ Quế (2006), Du lịch cộng đồng lý thuyết và vận dụng tập 1, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
  8. Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) tại Việt Nam (2003), Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên - Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế.
  9. Nguyễn Thị Tú (2006), Những giải pháp phát triển du lịch sinh thái Việt Nam trong xu thế hội nhập, luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học thương mại, Hà Nội.
  10. Tổng cục Du lịch Việt Nam (1999), xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam, Hội thảo quốc gia.
  11. Nguyễn Thanh Tưởng NCS Đại học Sư Phạm Đà Nẵng, định hướng phát triển du lịch ở huyện ảo Lý Sơn theo hướng bền vững- tạp chí khoa học Đại học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh. Số (73) năm 2015.
  12. Trần Đức Thạnh (Chủ biên) (2012), Biển đảo Việt Nam - Tài nguyên vị thế và những kỳ quan địa chất, sinh thái tiêu biểu, NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ.
  13. Nguyễn Bảo Thoa (2015), Những điều cần biết về phát triển du lịch cộng đồng, NXB văn hóa dân tộc, Hà Nội.
  14. Vũ Tuấn Anh (2015), Tiến tới nền kinh tế xanh ở Việt nam, NXB Khoa học xãhội, Hà Nội.
  15. Lê Huy Bá (2006), Du lịch sinh thái (Ecotourism),NXB Khoa học và kỹ thuật,Hà Nội.
  16. Lê Cảnh Dũng (Chủ biên) (2015), Giáo trình nguyên lý phát triển nông thôn,NXB Đại học Cần Thơ.
  17. Bùi Văn Dũng (Chủ biên) (2014), Giáo trình phát triển bền vững,NXB Đại học Vinh.
  18. Thế Đạt (2003), Du lịch và du lịch sinh thái,NXB lao động, Hà Nội.
  19. Lê Thị Hoa (2012), Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, luận văn thạc sĩ chuyên ngành sinh thái môi trường, Đại học KHTN, Đại học QGHN.
  20. Nguyễn Đình Hòa (2006), Du lịch sinh thái - thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam,Tạp chí kinh tế & phát triển, (103), tr 35-44.
  21. Nguyễn Đình Hòe - Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, Đại học quốc gia Hà Nội.
  22. Chu Mạnh Trinh (2008), Cộng đồng tham gia đánh giá hiệu quả khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm,tỉnh Quảng Nam, Ban quản lý khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm.
  23. Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (2014), Hợp tác phát triển sinh kế cộng đồng kinh nghiệm và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia sự thật, NXB thông tin và truyền thông.
  24. Viện chiến lược phát triển (2014), Hướng tới một nền kinh tế phát triển bền vững, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
  25. Bùi Thị Hải Yến (Chủ biên) (2012), Du lịch cộng đồng, NXB Giáo dục Việt Nam.
  26. Koeman (1997), Du lịch bền vững và du lịch sinh thái,Hội thảo quốc gia về sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quản lý các khu bảo tồn tự nhiên Việt Nam tại TP.HCM tháng 4/1997.TP.HCM.
  27. PGS. TS Nguyễn  Văn Mạnh, Ths Lê Trung Kiên (2011), Giáo trình Du lịch Sinh thái, NXB ĐHKTQD.
  28. TS. Nguyễn Văn Mạnh (02/2006), Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Phát triển sản phẩm DLST tại Ninh Bình.
  29. TS. Nguyễn Văn Mạnh - Th.s Lê Trung Kiên (05/2005), Đặc điểm Du lịch sinh thái và khả năng kinh doanh loại hình du lịch này tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển của Đại học Kinh tế Quốc dân
  30. IUCN (1998), Workshop on Ecotourism with sustainable tourism development in Vietnam.
  31. 31. World Commission on the Environment and Development (WCED-1987), Our Common Future, WCED publication.
  32. 32. WEARING, Stephen and NEIL, John (1999), Ecotourism: Impacts, Potentials and Possibilities, Butterworth Heinemann edition, 163p.
  33. 33. WTO (2002), The Canadian Ecotourism Market, Special Report, No.15.
  34. 34. WTO (1997), Tourism 2000: Building a Sustainable Future of Asia-Pacific, Final Report from Asia Pacific ministers’ conference on tourism and environment, Maldives,16-17 February 1997.
Copyright © 2013. Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Hà Tĩnh Rights Reserved.


Facebook twitter youtube