^Back To Top
foto1 foto2 foto3 foto4 foto5

THÁNG 11 Ở EBA-HTU - THÁNG TRI ÂN THẦY CÔ

Tháng 11 ùa về, khi những cơn gió lạnh đầu mùa khẽ len qua những cành lá, thì ở Khoa Kinh tế-QTKD, trường ĐHHT EBA-HTU, có những hơi ấm được lan tỏa... Từ những thầy cô giáo EBA-HTU, những thế hệ sinh viên EBA-HTU - những người đã trải qua tháng ngày thanh xuân rực rỡ dưới mái nhà EBA-HTU!!!

THANH XUÂN CỦA CÁC THẾ HỆ SINH VIÊN EBA-HTU!!! Thật tuyệt vời khi chúng em được gặp gỡ các thầy cô giáo - những người anh, người chị dưới mái nhà EBA-HTU - trẻ trung, năng động, nhiệt tâm, đã luôn quan tâm, động viên, khích lệ, dạy bảo chúng em những kiến thức, những bài học quý giá trên đường học, đường đời. Chúng em tự hào là sinh viên EBA-HTU, là một thành viên dưới mái nhà EBA-HTU!!!!

THÁNG 11 ở EBA-HTU - THÁNG TRI ÂN THẦY CÔ!!! Những thế hệ sinh viên EBA-HTU xúc động gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo EBA-HTU!!! Cảm ơn các thầy cô đã chắp cánh cho những ước mơ của chúng em được bay cao bay xa. Lời thầy cô là hành trang giúp chúng em tự tin vững bước trên đường đời, để thêm yêu và trân quý từng khoảnh khắc sống!!!

THÁNG 11 ở EBA-HTU - THÁNG TRI ÂN THẦY CÔ!!! Các thế hệ sinh viên EBA-HTU xin kính chúc các thầy cô giáo luôn dồi dào sức khỏe, thành công, hạnh phúc và tiếp tục chèo lái các thế hệ sinh viên cập bến bờ tri thức!!!!

Chúc mừng các Thầy cô giáo EBA-HTU nhân ngày 20/11!!!

Khoa Kinh tế _QTKD tổ chức mít tinh kỉ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11

Tập thể Sinh viên Khoa Kinh tế-QTKD chúc mừng Thầy cô giáo nhân ngày 20/11

Sinh viên Phạm Hồng Sương, đại diện cựu sinh viên chúc mừng Thầy cô giáo Khoa Kinh tế-QTKD nhân ngày 20/11

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương cơ hội và thách thức với nền kinh tế Việt Nam

Khi hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực sẽ tác động thế nào đến Việt Nam. Bài viết sẽ tìm hiểu khái quát Hiệp định CPTPP, đồng thời chỉ ra một số cơ hội cũng như những thách thức mà Việt Nam phải vượt qua để phát triển nền kinh tế.

Từ khóa: Hiệp định, CPTPP, Việt Nam, cơ hội, thách thức

  1. Khái quát về Hiệp định CPTPP

Hiệp định CPTPP - Comprehensive and Progressive Trans-Pacific Partnership. Đây là Hiệp định tiếp nối của Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương  (TPP), sau khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP. Hiệp định CPTPP được ký kết ngày 08/03/2018, với sự tham gia của 11 quốc gia thành viên: Australia, New Zealand, Canada, Mexico, Chile, Peru, Brunei, Nhật Bản, Malaysia, Singapore và Việt Nam.

Thời điểm có hiệu lực

Theo quy định tại văn kiện Hiệp định CPTPP thì Hiệp định này sẽ chính thức có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày có ít nhất 06 thành viên hoặc một nửa số thành viên Hiệp định (tùy số nào ít hơn) thông báo cho Cơ quan Lưu chiểu (New Zealand) về việc đã hoàn tất các thủ tục pháp lý. Đối với các nước không thuộc nhóm đề cập ở trên, CPTPP sẽ có hiệu lực với nước đó sau 60 ngày để từ ngày nước đó thông báo với New Zealand về việc hoàn tất thủ tục phê chuẩn nội bộ của mình.

Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2018 đối với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tất thủ tục gồm Mexico, Nhật Bản, Singapor, New Zealand, Canada và Australia. Đối với Việt Nam, Hiệp định có hiệu lực đối từ ngày 14/01/2019.

Nội dung chính của hiệp định

Văn kiện CPTPP gồm 30 Chương, bao trùm rất nhiều vấn đề, từ các vấn đề thương mại truyền thống (hàng hóa, dịch vụ, đầu tư…), đến các vấn đề thương mại chưa hoặc ít được đề cập trong các Hiệp định thương mại tự do - FTA (mua sắm công, thương mại điện tử, doanh nghiệp nhà nước…), và cả các vấn đề khác có liên quan đến thương mại (lao động, môi trường…).

Về cơ bản, Hiệp định CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP. Tuy nhiên, CPTPP có 2 điểm khác biệt so với TPP: (1) 20 điều khoản nghĩa vụ đã bị tạm hoãn lại (trong đó có 11 nghĩa vụ liên quan tới Chương Sở hữu trí tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến Chương Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ còn lại liên quan tới 7 chương là Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng,); (2) tăng cường không gian chính sách và sự linh hoạt các quy định thông qua bổ sung các điều khoản mới về “rút lui”, “gia nhập” và “rà soát lại” hiệp định.

Rút khỏi hoặc gia nhập CPTPP

Về việc kết nạp thêm thành viên mới: CPTPP cho phép bất kỳ quốc gia hoặc khu vực lãnh thổ thuế quan nào có thể gia nhập Hiệp định, với điều kiện là thỏa thuận được về điều kiện và cách thức với tất cả các thành viên của CPTPP.

Về việc rút khỏi Hiệp định: nếu một nước Thành viên muốn rút khỏi Hiệp định phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan lưu chiểu (New Zealand), đồng thời thông báo cho tất cả các thành viên khác của Hiệp định về việc rút khỏi. Việc rút khỏi sẽ có hiệu lực sau 06 tháng kể từ ngày gửi thông báo đến New Zealand, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

Một vài số liệu thống kê về các nước CPTPP

  1. Đánh giá về cơ hội và thách thức khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực

Cơ hội đối với Việt Nam

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

CPTPP giúp Việt Nam tăng thêm hơn 1,1% GDP vào năm 2030 (có thể lên tới 3,5% GDP nếu có kích thích tăng năng suất).

Ngoài ra, Việt Nam còn được tiếp cận những thị trường tốt hơn với thuế suất thấp hơn (Với CPTPP, mức thuế xuất nhập khẩu bình quân gia quyền áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường CPTPP sẽ giảm từ 1,7% xuống 0,2%) và những thị trường mà hiện Việt Nam chưa ký kết hiệp định tự do thương mại, như Canada, Mexico, Chile và Peru. Hiệp định sẽ bổ sung động lực cho mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư và xuất khẩu của Việt Nam.

CPTPP giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Việc ký kết CPTPP với lộ trình giảm thuế xuất khẩu xuống còn 0% - 5% giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh về giá cả sản phẩm.

CPTPP tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài, tiếp cận công nghệ hiện đại.

CPTPP sẽ giúp Việt Nam trở thành một trong những địa chỉ hấp dẫn về đầu tư, đầu tư nước ngoài sẽ nhiều hơn, dẫn tới việc xây mới hoặc thuê các khu công nghiệp để phục vụ sản xuất. Nhờ sự vận động này, nhóm doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng sẽ có đà phát triển trong trung và dài hạn. Doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam giúp thay đổi ngành công nghiệp hỗ trợ và Việt Nam sẽ thu hút các doanh nghiệp FDI ngành công nghiệp hỗ trợ chứ không đơn thuần là lắp ráp. Tăng trưởng đầu tư nước ngoài kéo theo tăng trưởng ngành dịch vụ và tăng năng suất lao động. Các doanh nghiệp tư nhân trong nước sẽ có thêm cơ hội tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, nhờ vậy khuyến khích phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Mở rộng thị trường xuất khẩu.

Tham gia CPTPP giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, từ đó thúc đẩy tăng trưởng nhiều ngành sản xuất trong nước.

Góp phần xóa đói, giảm nghèo và tạo thêm nhiều việc làm.

Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nhiều lợi ích xã hội, tạo ra khoảng 17.000 - 27.000 việc làm từ năm 2020. Tham gia CPTPP không chỉ tạo thêm số lượng việc làm mà còn hứa hẹn sẽ đem lại điều kiện làm việc, mức lương tốt hơn cho người lao động. Tạo động lực để Việt Nam đẩy mạnh cải cách thể chế.

Bên cạnh việc tận dụng cơ hội CPTPP mang lại về ưu đãi thuế, CPTPP còn tạo áp lực thúc đẩy cải cách thể chế để mở rộng thị trường, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch. Việt Nam phải duy trì được đà cải cách liên tục và có chất lượng sau khi gia nhập CPTPP.

Một số thách thức đối với Việt Nam

Bên cạnh những thuận lợi, CPTPP cũng đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam:

Áp lực cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài.

Các doanh nghiệp nước ngoài, với những thuận lợi về tài chính, trình độ quản trị, chuỗi phân phối toàn cầu sẽ nhanh hơn doanh nghiệp Việt Nam trong việc hưởng lợi từ các ưu đãi thuế quan. Bên cạnh đó, do tiềm lực của các doanh nghiệp Việt Nam yếu, sự liên kết với nhau kém nên sức ép cạnh tranh trên thị trường nước ngoài cũng là thách thức lớn. Việc phải mở cửa cho hàng hóa, dịch vụ của các nước đối tác tại thị trường Việt Nam đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt hơn tại thị trường nội địaDo khả năng thích nghi của doanh nghiệp Việt Nam với kinh tế thị trường kém nên nguy cơ thất bại của các doanh nghiệp trong nước cũng vì thế gia tăng.

Thách thức về hoàn thiện khung khổ pháp luật, thể chế.

Hiệp định đòi hỏi Việt Nam sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi một số quy định pháp luật về thương mại, hải quan, sở hữu trí tuệ, lao động... , chủ động và linh hoạt trong cải cách thể chế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, điều chỉnh mô hình tăng trưởng.

 

Thách thức đáp ứng được các tiêu chuẩn cao của FTA thế hệ mới.

CPTPP đặt ra các yêu cầu và tiêu chuẩn cao về minh bạch hóa, các quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ, đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc và chặt chẽ, do vậy, tham gia Hiệp định này không tránh khỏi những khó khăn khi phải đáp ứng đầy đủ những chuẩn mực về chất lượng hàng xuất khẩu, cạnh tranh nguồn lao động chất lượng cao...

Thách thức về giảm nguồn thu ngân sách nhà nước.

Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết sẽ làm giảm nguồn thu của nhà nước.

Thách thức về ổn định lao động - xã hội.

Cạnh tranh tăng lên khi tham gia CPTPP có thể làm cho một số doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, kéo theo đó là khả năng thất nghiệp sẽ xảy ra. Tuy nhiên, do cơ cấu xuất, nhập khẩu của phần lớn các nền kinh tế trong CPTPP không cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam, nên tác động này có tính cục bộ, quy mô không đáng kể và chỉ mang tính ngắn hạn.

  1. Kết luận

Tham gia CPTPP sẽ tạo cơ hội như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài, tiếp cận công nghệ hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu, góp phần xóa đói, giảm nghèo và tạo thêm nhiều việc làm, tạo động lực để Việt Nam đẩy mạnh cải cách thể chế.  Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, CPTPP cũng đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam như áp lực cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài, hoàn thiện khung khổ pháp luật thể chế, thách thức đáp ứng được các tiêu chuẩn cao của FTA thế hệ mới, giảm nguồn thu ngân sách nhà nước, thách thức về ổn định lao động - xã hội. Do vậy, Việt Nam phải tận dụng tốt các cơ hội để đạt được sự thành công trong hội nhập quốc tế và thực hiện có hiệu quả lợi ích gia nhập CPTPP.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Chuyên đề: Hiệp định CPTTP: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam – Tạp chí Tài chính (tapchitaichinh.vn) tháng 3/2018
  2. CPTPP và tác động của nó đến xuất nhập khẩu, Tạp chí Cộng sản (tháng 4/2018)
  3. https://theleader.vn/world-bank-danh-gia-chi-tiet-tac-dong-cua-hiep-dinh-cptpp-den-kinh-te-viet-nam-20180309133945501.htm
  4. Ngân hàng Bưu điện Việt Nam, Ðánh giá những tác động của CPTTP đến một số ngành kinh tế của Việt Nam (tháng 4/2018)
  5. World Bank,Tác động kinh tế và phân bổ thu nhập của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương: Trường hợp của Việt Nam (05/3/2018).

LÃNH ĐẠO NỮ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

Ở Việt Nam, phụ nữ đã tham gia lãnh đạo chính trị từ rất sớm. Trong lịch sửBà Trưng, Bà Triệu đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm lược để dành độc lập tự do cho đất nước. Phát huy truyền thống đó, ngày nay nhiều phụ nữ tiếp tục giữ các vị trí lãnh đạo và quản lý đất nước và có nhiều đóng góp quan trọng cho tiến trình phát triển và hội nhập quốc tế.Theo tiến trình phát triển của xã hội, vai trò tham chính của phụ nữ ngày càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng.

Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP) nhận định: Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia có điểm sáng về bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và quyền tham chính của phụ nữ. [1]

Gắn với mỗi thời kỳ phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam đều có những đóng góp to lớn và quan trọng đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong xã hội phong kiến, phụ nữ tham chính vô cùng hạn chế; những hình ảnh phụ nữ tham gia vào triều chính như Nguyên Phi Ỷ Lan, Dương Vân Nga... chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong các vị trí lãnh đạo, điều hành đất nước. Nguyên nhân sâu xa của thực trạng này là do tư tưởng Nho giáo trọng nam khinh nữ đã ăn sâu trong tiềm thức của người dân Việt Nam. Phụ nữ ít được coi trọng, thậm chí không được khuyến khích đến trường, không được bổ nhiệm vào các chức vụ quản lý của nhà nước. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, số phụ nữ tham chính ngày càng nhiều, họ có nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi để khẳng định năng lực quản lý nhà nước của mình cũng như đóng góp vào quá trình phát triển bền vững của đất nước.

.

Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân

(Ảnh Như Phúc - https://dantri.com.vn)

  • Quan niệm về sự bình đẳng giới trong việc đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, quản lý

Ngày nay, vai trò của phụ nữ được đánh giá cao trên các lĩnh vực. Các nghiên cứu khoa học đều cho thấy, phụ nữ có thể đảm nhận những lĩnh vực được coi là “địa hạt” của nam giới, như trong lĩnh vực chính trị. Tuy nhiên, vẫn còn không ít người quan niệm chưa thật sự đúng về vai trò của phụ nữ.

Theo quan niệm mác - xít, phụ nữ là nhóm đối tượng chịu sự áp bức của xã hội do chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa. Lênin khẳng định rằng, “phụ nữ sẵn sàng làm việc, nhận số tiền công hết sức rẻ mạt để kiếm thêm một mẫu bánh mì cho gia đình, nhưng họ bị trói buộc từ mọi phía, bị cột chặt vào gia đình. Phụ nữ vô sản không thể ngồi yên mà phải đứng lên cầm vũ khí cùng chồng con thủ tiêu ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản, tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội” [2]. Cùng quan niệm như Lênin, Hồ Chí Minh phân tích rằng, trong hoàn cảnh của đất nước bị đô hộ, phụ nữ thuộc địa nói chung, phụ nữ An Nam nói riêng luôn sống quằn quại trong cảnh lầm than và bị áp bức. Họ bị tước hết mọi quyền: quyền lao động, quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục... và quyền làm người. Qua cuộc sống thực tế ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “trong xã hội và gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì. Hỡi chị em! Vì sao chị em lại chịu áp bức bất công này” [3].

Mặc dù trong hoàn cảnh bị tước đoạt quyền nhưng phụ nữ Việt Nam vẫn âm thầm cống hiến tài năng và trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Vì thế, Hồ Chí Minh luôn thấy rõ vai trò của phụ nữ Việt Nam. Người nhận định, “non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”[4]. Từ những bằng chứng trong lịch sử, Người đã rút ra kết luận: “xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia”, “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”, “nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [5].

Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học hiện nay cũng đánh giá cao vai trò của phụ nữ và tầm quan trọng của bình đẳng giới. Robert Merton, nhà xã hội học người Mỹ, là một trong những người như vậy. Ông cho rằng, một người phụ nữ có thể đảm nhận rất nhiều vai trò khác nhau. Họ có thể vừa là một người mẹ, người vợ, cũng có thể vừa làm khoa học, làm chính trị.Merton rất ủng hộ việc người phụ nữ có thể lựa chọn và quyết định vai trò của mình trong gia gia đình và xã hội.

Đồng tình với Merton, các nhà xã hội học theo lý thuyết biến đổi xã hội cho rằng, quan hệ nam và nữ cũng là đối tượng của sự biến đổi xã hội. Sự biến đổi to lớn về kinh tế, chính trị, nhận thức kéo theo sự biến đổi các mối quan hệ giới. Việc phân tích mối quan hệ này tạo dựng sự bình đẳng và công bằng về giới. Các nhà xã hội học theo lý thuyết biến đổi xã hội rất ủng hộ những biến đổi xã hội theo hướng tiến bộ và ủng hộ một xã hội bình đẳng giữa nam và nữ. Họ ủng hộ giải phóng phụ nữ, sự bình đẳng về giới. Họ cho rằng, quan niệm coi các đặc tính phụ nữ (sự mềm mại, dịu dàng, tình cảm, thông hiểu, nhạy cảm) giúp cho phụ nữ thành công hơn so với nam giới trong vai trò lãnh đạo, quản lý. Theo các nhà xã hội học, trong khi đàn ông phải tỏ ra cạnh tranh, mạnh mẽ, can đảm, cương quyết và kiểm soát thì phụ nữ tỏ ra tình cảm, quan tâm, hợp tác, chia sẻ, nhạy cảm; vì thế phụ nữ ngày càng trở thành lãnh đạo biết quan hệ tương tác hơn so với những nam giới làm lãnh đạo.

Các nhà nữ quyền cho rằng, cần đòi cơ hội bình đẳng cho phụ nữ thông qua thay đổi việc lập pháp để đảm bảo quyền cá nhân, chấm dứt sự phân biệt đối xử trên cơ sở thông qua các phương tiện dân chủ, giúp phụ nữ vượt lên chính mình. Bên cạnh đó, các nhà nữ quyền cũng kêu gọi mỗi phụ nữ cần tự giải phóng mình bằng cách bác bỏ quan niệm coi phụ nữ phụ thuộc vào nam giới. Bởi vì, cái khác biệt giữa nam giới và phụ nữ là sự khác biệt về hình dáng, chứ không phải là trí tuệ.

  •  Thực trạng phụ nữ tham chính ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia được đánh giá có những quyết tâm chính trị cao trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham chính nói riêng. Tinh thần bình đẳng cơ hội giữa nam và nữ trong chính trị đã được khẳng định với việc đặt ra các chỉ tiêu cụ thể. (Chẳng hạn chỉ tiêu 1: phấn đấu tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy đảng nhiệm kỳ 2016 -2020từ25%trởlên;tỷlệ nữ đại biểu quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 - 2020 trên 35%; chỉ tiêu 2: phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% đến năm 2020 đạt trên 95% Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ; chỉ tiêu 3: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 70% và đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động).[5]

Kết quả thực hiện mục tiêu chiến lược quốc gia bình đẳng giới cho thấy, Việt Nam là một trong số ít nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt trên 25%. Số đại biểu nữ giữ các trọng trách quan trọng trong các cơ quan của Quốc hội có xu hướng tăng lên. Trong khối cơ quan Đảng, ở cấp Trung ương (TW), nhiệm kỳ 2005 - 2011, tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành TW Đảng (kể cả ủy viên dự khuyết) là 10%, tăng so với nhiệm kỳ 2001 - 2005 (8,6%), tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Ban Bí thư TW Đảng là 20% (2/10 đồng chí) [6]. Ở cấp địa phương, kếtquảtại bảng1chothấy,tỷlệnữlà đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện và xã ở các giai đoạn đều tăng, đặc biệt là ở cấp xã. Một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ này tăng lên là do hoạt động vận động bầu cử ở địa phương diễn ra khá tốt. (Xem bảng 1)

Bảng 1: Tỷ lệ nữ là đại biểu Hội đồng nhân dân qua các thời kỳ

 

1994 - 2004

2004 - 2011

2011 - 2016

Cấp tỉnh

22,33

23,80

25,70

Cấp huyện

20,12

22,94

24,62

Cấp xã

16,10

19,53

27,71

(Nguồn: Theo UNDP, 2016)

            Trong bối cảnh hiện nay, việc phụ nữ Việt Nam đã tham gia tích cực vào lãnh đạo, quản lý và bước đầu được ghi nhận và đánh giá cao. Tuy nhiên, so với tiềm năng và nguồn lực nữ cán bộ trong hệ thống chính trị thì tỷ lệ cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ còn thấp so với đội ngũ lao độngnữvàsovới yêucầu.Tỷlệnữđại biểu Quốc hội xu hướng tăng không bền vững và có dấu hiệu đi xuống trong 2 nhiệm kỳ liên tục (Khóa X đạt 26,2%, khóa XI đạt 27,3%, khóa XII đạt 25,7%, khóa XIII là 24,4%) và chưa đạt chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010 (phấn đấu đạt từ 33% trở lên)[7]. Tỷ lệ nam và nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý vẫn còn mất cân đối. Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ trong nhiệm kỳ 2005 – 2010 giảm so với nhiệm kỳ 1999 - 2004. Cụ thể: ở Trung Ương, chỉ có 9/30 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ trong ban lãnh đạo; chỉ có 1 nữ trong số 30 Bộ trưởng và tương đương (4,5% so với 12% ở khóa 2002- 2007). Có 9 nữ trong số khoảng 100 Thứ trưởng và tương đương (8,4% so với 9% khóa 2002-2007).Tỷ lệ nữ vụ trưởng và tương đương giảm từ 6% xuống 5,5%. Năm 2008, Việt Nam xếp thứ 89 trên tổng số 93 nước xếp hạng về có các chức danh bộ trưởng là nữ. Ở cấp địa phương, cả nước hiện chỉ có duy nhất một nữ trong số 63 Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh và còn khoảng 19 tỉnh/thành không có nữ lãnh đạo chủ chốt ở cấp này [8]. Trong nhiều năm nay chưa có sự tham gia của phụ nữ vào các chức danh như Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ và trong Bộ Chính trị hiện nay chỉ có 3/19 đồng chí là nữ.

            Một trong những nguyên nhân của tình trạng nói trên là sự hạn chế trong nhận thức của xã hội về tầm quan trọng của việc phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị và cộng đồng; thiếu các cơ chế và điều kiện thuận lợi để phụ nữ thực hiện đầy đủ quyền bầu cử, ứng cử của mình; bản thân phụ nữ, nhất là phụ nữ ở các vùng nông thôn, dân tộc thiểu số, còn thiếu tự tin và ít được gia đình ủng hội tham gia ứng cử. Vì vậy, trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần thực hiện các giải pháp đồng bộ và tích cực để tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các cơ quan dân cử trong các khoá tới đây. Trước mắt, cần nghiên cứu và xem xét để điều chỉnh phù hợp đối với các quy định liên quan đến tuổi nghỉ hưu, tuổi quy hoạch, tuổi bổ nhiệm đối với cán bộ nữ. Việc phụ nữ nghỉ hưu sớm là rào cản mang tính luật pháp có tác động rất lớn đến con đường phát triển sự nghiệp, sự thăng tiến của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Sự khác biệt về tuổi hưu ảnh hưởng suốt cuộc đời lao động của người phụ nữ, góp phần tạo ra những hình thức phân biệt, đối xử chính thức và không chính thức đối vớiphụnữđếncácvịtrícaocấp trong hệ thống chính trị. Tuổi nghỉ hưu thấp hơn của phụ nữ dẫn đến chỗ, họ có ít năm làm việc hơn nam giới, có lương thấp hơn và ít cơ hội tăng tối đa lương trong sự nghiệp. Cơ hội đào tạo cho phụ nữ cũng ít đi vì các quy định thường giảm tuổi tham gia đào tạo cao hơn cho phụ nữ sau khi 45 tuổi (với nam giới là sau 50 tuổi), do đó sự tiếp cận của họ tới các vị trí cấp cao cũng giảm. Việc nghỉ hưu sớm cũng dẫn đến việc phụ nữ ít có cơ hội để được bổ nhiệm vào các vị trí cấp cao so với nam giới.

            Ở Việt Nam sự thiếu vắng phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý bắt nguồn từ tổng tích hợp nhiều yếu tố thuộc về văn hóa - xã hội, kinh tế, chính trị và luật pháp. Vì vậy, để tạo những điều kiện và cơ hội bình đẳng thực sự cho phụ nữ, đặc biệt trong lĩnh vực tham chính, Đảng và Nhà nước cần thực thi đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chú trọng đến việc ban hành luật pháp, thực thi, áp dụng pháp luật về bình đẳng giới trong đời sống thực tiễn. Các nhà khoa học cần chú trọng các nghiên cứu về việc phụ nữ tham gia chính trị ở Việt Namđểcónhữngcơsởkhoahọcvà thực tiễn nâng cao vị thế cho phụ nữ trong cấu trúc quyền lực ở Việt Nam.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

[1]. UNDP (2015), “Báo cáo quốc gia: Kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam”.

[2], [3], [4]. Lê Thị Quý (2009), “Xã hội học về giới”, NXB Giáo Dục Việt Nam.

[5], [6], [7], [8]. Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đến giai đoạn 2020.

[9]. Đặng Thị Ánh Tuyết (2016), “Phụ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam.

Hướng đi mới cho việc phát triển du lịch gắn với các làng nghề thủ công truyền thống tại Hà Tĩnh

Hà Tĩnh là một trong những địa phương có tiềm năng du lịch khá toàn diện. Với gần 137 km bờ biển, Hà Tĩnh có những bãi tắm giá trị như Xuân Thành, Xuân Hải, Thạch Hải, Thạch Bằng, Thiên Cầm, Kỳ Ninh, Đèo Con … với nguồn lợi hải sản phong phú, là thế mạnh để phát triển du lịch biển, đảo. Hà Tĩnh cũng có nhiều di tích danh thắng nổi tiếng như núi Hồng - sông La, bến Tam Soa - Tùng Lĩnh, suối Tiên - Thiên Tượng, đèo Ngang - Hoành Sơn Quan, hồ Kẻ Gỗ, Vườn quốc gia Vũ Quang, thác Vũ Môn, Quỳnh Viên - Nam Giới... Đó là điều kiện cần để có thể phát triển các sản phẩm du lịch chất lượng cao.

Hà Tĩnh có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa và cách mạng, từ bao đời nay luôn nổi tiếng là vùng “địa linh, nhân kiệt”.Đây là quê hương của nhiều danh nhân gắn với di tích lịch sử - văn hoá như khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du, di tích Danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, khu lưu niệm Tổng bí thư Trần Phú, khu lưu niệm Tổng bí thư Hà Huy Tập, khu di tích Ngã Ba Đồng Lộc…

Đây cũng là vùng đất nổi danh với đời sống văn hoá dân gian hết sức phong phú được phản ánh qua các làn điệu dân ca, câu hát, vần thơ, lễ hội, làng nghề thủ công như  hát phường vải Trường Lưu, Trường Nga; ca trù Cổ Đạm; hát ví dặm đò đưa dọc sông Lam; múa sắc bùa ở Kỳ Anh, Đức Thọ, Hương Khê; hò chèo cạn ở Cẩm Nhượng; hò Thạch Khê; các đình, chùa nổi tiếng như chùa Hương Tích, đền Chợ Củi, Quỳnh Viên - Chiêu Trưng, đền bà Bích Châu, Sơn phòng Hàm Nghi... luôn hấp dẫn du khách thập phương đến tham quan, tìm hiểu và chiêm bái.

Đặc biệt, Hà Tĩnh có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng. Khai thác các sản phảm thủ công truyền thống và khôi phục phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch. Kinh nghiệm cho thấy nhiều làng nghề truyền thống nếu được đầu tư xây dựng, khôi phục quá trình hoạt động có thể trở thành một điểm tham quan hấp dẫn, đồng thời có thể tổ chức bán được các sản phẩm lưu niệm cho du khách. Gần đây xu hướng phát triển làng nghề có sự tham gia của khách du lịch trong quá trình sản xuất đang được phát triển mạnh, càng nâng cao vị thế làng nghề thủ công truyền thống đối với hoạt động du lịch. Tuy nhiên, cần phải lựa chọn những nghề phù hợp và những làng nghề có vị trí gần các tuyến, điểm du lịch để thuận tiện đầu tư phát triển và tổ chức khai thác.

Hiện nay, Hà Tĩnh có hơn 30 làng nghề và nghề truyền thống với quy mô rất lớn với hàng ngàn hộ gia đình tham gia sản xuất, có thể kể đến một số làng nghề tiêu biểu có thể khai thác phát triển du lịch:

- Làng mộc Thái Yên: Thuộc xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, là một làng phát triển nghề mộc lâu đời. Hàng mộc Thái Yên không chỉ nổi tiếng ở trong nước, được ưa chuộng ở Hà Nội, Hải Phòng, TP.Hồ Chí Minh... mà còn nổi tiếng ở nước ngoài như Hồng Kông, Thượng Hải...Năm 2010, làng mộc Thái Yên được Hiệp hội làng nghề Việt Nam vinh danh là một trong chín  làng nghề tiêu biểu của cả nước.

Ảnh: Đĩa gỗ và biểu trưng gỗ (Nguồn: baohatinh.vn)

- Làng rèn Vân Chàng - Minh Lang: Thuộc xã Đức Thuận, thị xã Hồng Lĩnh. Từ bao đời làng rèn Vân Chàng không chỉ có tiếng ở địa phương mà cả ở trong nước về sản xuất các mặt hàng như: dao, dựa, cuốc, xẻng, lưỡi cày và các hàng sắt gia dụng khác luôn được mọi người sử dụng ưa chuộng.

- Làng rèn Minh Lương: Làng nằm cạnh làng Vân Chàng, nay thuộc xã Trung Lương, thị xã Hồng Lĩnh. Làng phát triển nghề rèn nông cụ, hiện nay nghề vẫn được tiếp tục phát triển và mở rộng .

- Làng đóng thuyền Trường Xuân(nay là xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ): Một làng có nghề đóng thuyền nổi tiếng trong cả nước. Theo truyền ngôn và thần phả đền thờ tổ sư thì nghề này có từ đời Lê, thuộc xã Trường Xuân (Đức Thọ). Hiện nay có khoảng 170 hộ làm nghề đóng thuyền ở Trường Xuân đã phát huy, kế thừa ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao.

Ngoài ra, ở Hà Tĩnh còn có một số làng nghề khác như: làng gốm Cẩm Trang; làng đúc đồng Đức Lâm; mỹ nghệ vàng bạc Nam Tri; dệt vải Châu Phong, Hạ Hoàng; dệt thảm (Xuân Hội, Nghi Xuân); Nghề dệt chiếu cói (Thị trấn Nghèn, Can Lộc); Nghề đan lát đồ mây, tre nứa, đóng thuyền (Thạch Long, Thạch Hà); Nghề làm nón bài thơ (Phù Việt, Thạch Hà; Kỳ Thư, Kỳ Anh); nghề dệt vải và làm chăn, đệm (Thạch Đồng, thành phố Hà Tĩnh)...

Xác định được các tiềm năng to lớn đó đối với phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói chung, trong những năm qua tỉnh Hà Tĩnh đã tập trung chiến lược xây dựng thương hiệu, đầu tư xây dựng điểm đến, cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo môi trường du lịch an toàn và thân thiện, tạo điều kiện cho các dự án đầu tư quy mô lớn được triển khai thuận lợi và đúng tiến độ nhằm đưa ra các sản phẩm du lịch làng nghề mới, hấp dẫn du khách và có sức cạnh tranh so với các địa phương khác trong cả nước. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh cần phải có những giải pháp cụ thể để phát triển du lịch gắn với các làng nghề thủ công truyền thống xứng với tiềm năng vốn có.

- Cơ quan ban ngành chuyên môn cần tổ chức một số cuộc điều tra, khảo sát về ý kiến du khách đối với hoạt động du lịch của các làng nghề, từ đó chúng ta mới biết nhu cầu thật sự của du khách là gì và khả năng đáp ứng của làng nghề đến đâu.

Ảnh: Sản phẩm gỗ nội thất Thái Yên (Nguồn: langvietonline.vn)

- Chính quyền địa phương cần có chương trình phổ biến, tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho người dân địa phương đặc biệt là nhận thức cho thế hệ trẻ, bởi vì đối tượng duy trì hoạt động của các nghề truyền thống còn bị hạn chế, chỉ tập trung vào đối tượng trung và cao tuổi, giúp họ nhận ra những giá trị thiết thực của sản phẩm từ những làng nghề thủ công truyền thống mang lại.

- Tỉnh cần lựa chọn một số làng nghề có tiềm năng, lợi thế về sản phẩm, cảnh quan, môi trường, có khả năng kết nối và nghề đặc trưng nhằm phát triển làng nghề truyền thống kết hợp với du lịch để có thể tổ chức đầu tư phát triển khai thác, xúc tiến, quảng bá giới thiệu các sản phẩm trở thành điểm đến hấp dẫn của các tour du lịch.

- Cần có chính sách cơ chế “mở” để tập trung xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng, hỗ trợ đào tạo nghề, khuyến khích các nghệ nhân, thợ lành nghề tiếp tục truyền, dạy nghề, vận động hình thành các HTX, doanh nghiệp trong các làng nghề để làm hạt nhân phát triển làng nghề.

- Cơ quan chuyên môn tỉnh cần xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm thủ công, truyền thống; nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, phát triển sản phẩm đa dạng cả về mẫu mã, chất lượng và tạo ra các sản phẩm đặc trưng, phù hợp với hàng lưu niệm - quà tặng phục vụ du lịch.

- Bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển các làng nghề truyền thống đó chính là việc bảo vệ môi trường, cảnh quan sinh thái. Thực trạng phổ biến hiện nay là sự phát triển của làng nghề truyền thống tại các điểm du lịch luôn đi kèm với sự ô nhiễm môi trường.

- Tiếp đến, một trong những yếu tố mà khách du lịch quan tâm tại các làng nghề truyền thống đó là bản sắc văn hóa, việc phát triển làng nghề cũng đồng nghĩa là việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa đặc trưng, có như vậy hoạt động làng nghề với hoạt động du lịch mới thực sự phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, để các làng nghề phát triển đúng với tiềm năng, trở thành một loại hình trọng điểm thu hút khách du lịch cần có sự hợp tác chặt chẽ, chung tay góp sức của các ban, ngành, chính quyền địa phương với các doanh nghiệp, cộng đồng người dân và những nghệ nhân, người thợ ở các làng nghề truyền thống.

Có thể nói rằng phát triển du lịch gắn với phát triển các làng nghề truyền thống đang thu hút ngày càng nhiều khách du lịch. Bên cạnh những lợi ích về kinh tế, xã hội, loại hình du lịch này còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa và giữ gìn bản sắc dân tộc.Văn hóa các làng nghề truyền thống đích thực là một nhân tố hấp dẫn để phát triển du lịch.

 

Tài liệu tham khảo

 

[1]. Sở VHTT&DL Hà Tĩnh (2012), Đề án chính sách khuyến khích phát triển du lịch Hà Tĩnh giai đoạn 2010 - 2020.

[2]. Sở VHTT&DL Hà Tĩnh (2013), Báo cáo quy hoạch phát triển du lịch Hà Tĩnh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030.

[3] UBND tỉnh Hà Tĩnh (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020 tầm nhìn 2050.

[4]  http://www.vietnamtourism.gov.vn

[5]  http:// www. dulichhatinh.com.vn

Đoàn Thanh niên Khoa KT-QTKD

Đoàn Thanh niên Khoa KT-QTKD

  1. BÍ THƯ

Thạc sỹ: Cù Thị Nhung

 E-mail: nhung.cuthiThis email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Điện Thoại: 0985.420.353

  1. PHÓ BÍ THƯ

Nguyễn Thị Thùy Trang

 E-mail: thuytrangks97@gmail.com

Điện Thoại: 01657.887.984

Copyright © 2013. Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Hà Tĩnh Rights Reserved.


Facebook twitter youtube