^Back To Top
foto1 foto2 foto3 foto4 foto5

GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG

 

Tóm tắt

Một trong những quốc gia nằm trong tiểu vùng sông Mê Kông, Việt Nam đang tích cực hợp tác phát triển du lịch vùng, du lịch Việt Nam đang có sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng khách du lịch quốc tế và trong nước, yêu cầu cấp bách đặt ra cho ngành du lịch là phải chuẩn bị nguồn nhân lực đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững. 

Từ khóa: du lịch, nhân lực du lịch, tiểu vùng sông MÊ KÔNG

Abstract

One of the countries in the Mekong sub-region, Vietnam is actively cooperating regional tourism development, tourism, Vietnam is enjoying a strong growth in the number of international tourists and domestic, love urgent set for tourism is to prepare human resources in sufficient quantity, standards of quality, ensure sustainable development

Keywords:Travel, Tourism Human Resources, MÊ KÔNG River sub-region


1. Phát triển du lịch tiểu vùng sông Mê Kông

1.1. Tiểu vùng sông Mê Kông

Sông Mê Kông là con sông dài nhất ở Đông Nam Á và lớn thứ 12 trên thế giới (4.800 km) khởi nguồn từ cao nguyên Tây Tạng chảy theo hướng Bắc – Nam qua 6 nước Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Tiểu vùng Mekong là điểm nối trung tâm của Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN, đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu; đóng vai trò cầu nối giao thông, thương mại, đầu tư giữa các nước phía Đông Châu Á. Tiểu vùng Mekong có khí hậu nhiệt đới, lại được phù sa sông Mekong bồi đắp nên hoạt động sản xuất nông nghiệp rất thuận lợi, mức tăng trưởng kinh tế của khu vực cao. Trong năm 2015, bình quân tăng trưởng khu vực này đạt mức 6,1%, trong khi tăng trưởng bình quân của thế giới ở mức 2,5%.  

Năm 1992, với sáng kiến của 6 nước trong tiểu vùng và sự trợ giúp của Uỷ ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), chương trình hợp tác Tiểu vùng Mê kông mở rộng (GMS) được hình thành trên lĩnh vực năng lượng, viễn thông, giao thông vận tải, thương mại, môi trường, du lịch, phát triển tài nguyên và nguồn nhân lực. Trong đó du lịch là lĩnh vực có nhiều điều kiện thuận lợi để triển khai sớm nhất có hiệu quả, vì vậy du lịch tiểu vùng này trong những năm qua đã có nhiều bước phát triển và đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Do đây là vùng trung tâm chiến lược, có liên quan đến nhiều quốc gia, lãnh thổ nên nó không chỉ là mối quan tâm của các quốc gia gắn với sông Mê kông mà ngày càng được nhiều nước, nhiều tổ chức thế giới quan tâm, nhất là ESCAP, ADB, Hiệp hội Lữ hành Châu Á-Thái Bình Dương (PATA), Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO) và các nước đối thoại

1.2. Thành tựu hợp tác du lịch tiểu vùng sông Mê Kông

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, du lịch trên thế giới đang phát triển rất mạnh. Lượng khách du lịch đến Châu Á nói chung và đến tiểu vùng sông MÊ KÔNG nói riêng tăng nhanh. Theo số liệu của Tổ chức Du lịch Thế giới, từ năm 2002, lượng khách quốc tế đến  các nước tiểu vùng sông MÊ KÔNG đã tăng liên tục, với mức tăng trưởng trung bình khoảng 12%/năm. Năm 2014, Tiểu vùng đón gần 54 triệu lượt khách quốc tế, tăng 8,2% so với năm 2013, chiếm khoảng 20% tổng lượng khách đến châu Á - Thái Bình Dương; Hoạt động du lịch đã mang lại thu nhập cao cho các nước trong vùng với hơn 61 tỷ USD, chính phần thu nhập này đã góp phần lớn vào GDP, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần tích cực cho xóa đói giảm nghèo. 

1.3. Du lịch Việt Nam

Mặc dù đang trong thời kỳ khắc phục suy thoái nhưng có thể khẳng định, trong giai đoạn vừa qua, ngành Du lịch đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, công tác quy hoạch và đầu tư phát triển các khu, tuyến, điểm, đô thị du lịch trên 7 vùng du lịch của cả nước đã được triển khai  nhanh chóng, hệ thống các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận chuyển, lữ hành, lưu trú, nhà hàng ngày càng đa dạng về dịch vụ và phát triển về chất lượng, số lượng và trình độ lao động phục vụ trong lĩnh vực du lịch ngày càng được nâng cao… Những thành tựu đó đã đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển ngành Du lịch Việt Nam trước thềm hội nhập và phát triển của thời kỳ mới. 

Bên cạnh sự nỗ lực của ngành du lịch, việc hợp tác du lịch  gắn với một Tiểu vùng có 237 triệu người, trên một diện tích 2,3 triệu km2, đang hấp dẫn đầu tư và du lịch, sản phẩm du lịch Việt Nam vốn đã đa dạng, hấp dẫn lại được kết hợp với sự phong phú, hấp dẫn du lịch của các nước khác trong Tiểu vùng đã nâng được vị thế du lịch Việt Nam lên đáng kể. .Sản phẩm Du lịch Việt Nam phối hợp và tiếp thị tốt hơn trên thị trường, cùng với sản phẩm du lịch cả tiểu vùng đáp ứng xu thế đi du lịch nhiều nước trong một chuyến đi của khách trên thế giới , do đó thị trường du lịch của Việt nam ngày càng được mở rộng, lượng khách đến ngày càng nhiều gồm cả khách là công dân của các nước dọc sông Mê Kông và khách nước thứ 3 đến những nước trong Tiểu vùng. .

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 12/2016 ước đạt 897.279 lượt, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2015. Tính chung cả năm 2016 ước đạt 10.012.735 lượt khách, tăng 26,0% so với năm 2015.

Để có được kết quả đón khách quốc tế như trên là một cố gắng rất lớn của ngành Du lịch, cùng với sự chỉ đạo của Chính phủ, các ban ngành từ trung ương đến địa phương nhằm triển khai Nghị quyết 92/NQ-CP của Chính phủ, Chỉ thị 14/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các Nghị quyết của Chính phủ về miễn visa có thời hạn cho một số thị trường quan trọng của du lịch Việt Nam... Tuy nhiên, có thể thấy thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua vẫn còn nhiều hạn chế, du lịch Việt Nam vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế của bản thân trong hợp tác phát triển du lịch tiểu vùng sông MÊ KÔNG, chất lượng và hiệu quả còn thấp, chưa xây dựng được thương hiệu và uy tín mạnh trên thế giới, còn phát triển theo chiều rộng mà chưa chú trọng đến phát triển chiều sâu, phát triển chưa đảm bảo tính bền vững.Nguyên nhân của những hạn chế này do nhiều yếu tố nhưng chủ yếu là do nhân lực du lịch Việt nam còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, kiến thức, kỹ năng bộ phận lớn vẫn chưa đáp ứng được yếu cầu hội nhập quốc tế, chưa phù hợp trong bối cảnh hội nhập phát triển du lịch của tiểu vùng. Để du lịch Việt bắt kịp xu thế phát triển của vùng và thế giới, nước ta cần chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực có tay nghề cao để giữ chân, thu hút khách; tiến tới xây dựng ngành du lịch ngày càng phát triển chuyên sâu theo hướng bền vững.

2. Phát triển nhân lực du lịch Việt Nam 

2.1. Một số khái niệm

- Nhân lực du lịch bao gồm: lao động thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các đơn vị sự nghiệp trong ngành từ trung ương đến địa phương, lao động trong các doanh nghiệp du lịch gồm đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh, đội ngũ lao động nghiệp vụ trong các khách sạn - nhà hàng, công ty lữ hành, vận chuyển du lịch..., lao động làm công tác đào tạo du lịch trong các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học

Đối với ngành du lịch, nguồn nhân lực được xem là tài sản quý giá, tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng như sự phát triển bền vững của ngành

- Phát triển nguồn nhân lực du lịch: là những hoạt động nhằm tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc của lực lượng lao động đang và sẽ làm việc trực tiếp trong ngành du lịch.

2.2. Nhân lực Du lịch Việt Nam

Việc hợp tác liên kết du lịch trong tiểu vùng sông Mê Kông vừa mang lại nhiều thuận lợi cho du lịch Việt Nam nhưng cũng tạo ra không ít thách thức, nếu không xây dựng được thương hiệu sản phẩm du lịch Việt Nam một cách bền vững, chất lượng du lịch kém thì nó sẽ trở thành nguy cơ vừa không thu hút được khách du lịch quốc tế mà còn không háp dẫn khách du lịch trong nước. Một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng du lịch đó là nhân lực du lịch, tuy nhiên đây lại là điểm yếu của ngành du lịch Việt Nam, nhân lực du lịch ở Việt Nam vừa yếu về chất lượng vừa thiếu về số lượng khá trầm trọng. 

Hiện nay lao động ngành du lịch có khoảng 2.250.000 người,  lao động trực tiếp chiếm khoảng hơn 600.000 người, trong số lao động trực tiếp chỉ khoảng 50% đã qua đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng, số lao động đã qua đào tạo trình độ đại học và sau đại học về du lịch chỉ đạt khoảng  7,5% số nhân lực có chuyên môn du lịch Trong khi số lao động du lịch dưới sơ cấp (đào tạo truyền nghề dưới 3 tháng) vẫn còn chiếm hơn 45% nhân lực có chuyên môn. 

Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (ITDR) với tốc độ tăng trưởng là 6,2%/năm trong giai đoạn 2011-2015, năm 2020 cần 870.000 lao động. Ngành du lịch Việt Nam hiện được đánh giá là ngành có nhu cầu nhân sự cao gấp 2-3 lần so với các ngành trọng điểm khác như giáo dục, y tế, tài chính… 

Về trình độ ngoại ngữ: Hiện nay, khả năng ngoại ngữ của nhân lực du lịch Việt Nam vẫn còn rất thấp, khoảng 60% nhân lực biết sử dụng ngoại ngữ, trong đó tiếng Anh là chủ yếu (chiếm 42%), tiếp đó là tiếng Trung quốc (5%) và tiếng Pháp (4%), tuy nhiên chủ yếu là cũng chỉ dừng lại ở trình độ giao tiếp đơpn giản, chỉ khoảng 15% lao động chủ yếu làm hướng dẫn viên, lễ tân có khả năng giao tiếp thông thạo 

Khả năng về công nghệ thông tin của nhân lực du lịch Việt Nam vẫn còn có tỷ lệ khá thấp, có khoảng 68% lao động du lịch biết sử dụng máy tính phục vụ công việc, những cũng chỉ đáp ứng được đối với các công việc thuần túy. 

Bên cạnh những yếu kém về trình độ đào tạo, do hệ thống giáo dục của Việt Nam đang nặng học thuật, lý thuyết, các cơ sở đào tạo lại thường thiếu trang thiết bị phục vụ cho môn học, đầu tư cho thực hành, thực nghiệm còn kém, các chương trình, phương pháp đào tạo không đặt trọng tâm nhiều về kỹ năng mềm và phát triển nhân cách, trong khi những điều này rất cần thiết để thực hiện hiệu quả công việc nên khi ra làm việc thì khả năng ứng dụng thực tiễn còn khó khăn, hạn chế. Mặt khác do bản chất e dè, nhút nhát, thiếu tự tin và năng động dẫn đến làm việc thiếu sự sáng tạo và không mang tính chuyên nghiệp, hiệu quả công việc không cao.

2.3. Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại Việt Nam:

a, Về cơ sở đào tạo

Ở nước ta hiện nay có tổng khoảng 156 cở sở tham gia đào tạo nguồn nhân lực du lịch gồm 48 trường đại học, 43 trường cao đẳng, 40 trường trung cấp, 23 trung tâm đào tạo nghề và 2 công ty đào tạo. Các cơ sở đào tạo du lịch trực thuộc Bộ Giáo dục – Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, các địa phương. Chỉ có duy nhất một cơ sở đào tạo trực thuộc doanh nghiệp là Trường Trung cấp du lịch – khách sạn Saigontourist của Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, những cơ sở đào tạo chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM. Mặc dù số cơ sở có đào tạo du lịch là khá lớn, nhưng chưa có trường đại học đào tạo chuyên về ngành du lịch, bên cạnh đó các cơ sở đào tạo vẫn chưa thống nhất về chương trình khung đào tạo, dẫn tới chất lượng đầu ra vẫn còn nhiều khác biệt. Điều này cũng gây ra nhiều khó khăn cho cả đối tượng sử dụng nhân lực du lịch cũng như công tác quản lý của các cơ quan nhà nước.

Theo Tổng cục Du lịch, mỗi năm toàn ngành cần thêm gần 40.000 lao động nhưng hàng năm các cơ sở đào tạo du lịch cho tốt nghiệp ra trường được khoảng 20.000 sinh viên học viên Trong đó có khoảng 1.800 sinh viên đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, 2100 sinh viên cao đẳng nghề du lịch, khoảng 18.200 học viên hệ trung cấp, ngoài ra còn có khoảng 5.000 sơ cấp và đào tạo truyền nghề dưới 3 tháng. Hơn nữa, nhiều hướng dẫn viên du lịch dù được đào tạo dài hạn ở các trường đại học, cao đẳng... Khi được tuyển dụng làm việc hầu hết doanh nghiệp lữ hành đều phải đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung kỹ năng, ngoại ngữ

b,. Về đội ngũ giảng viên, giáo viên, đào tạo viên du lịch:

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hiện cả nước có khoảng 5.000 người tham gia đào tạo mới về du lịch, trong đó có 2.000 giáo viên, giảng viên (cả cơ hữu và thỉnh giảng), 2580 đào tạo viên du lịch và 540 cán bộ quản lý, phục vụ đào tạo các cấp. Trong số đó có 2 Giáo sư, 11 Phó Giáo sư, 1 Tiến sỹ khoa học, 36 Tiến sỹ, 210 Thạc sỹ và 5 chuyên gia, nghệ nhân.

Với thực trang công tác đào tạo nhân lực du lịch hiện nay, chúng ta mới chỉ đáp ứng được xấp xỉ 60% nhu cầu về số lượng và còn khoảng cách xa về trình độ chất lượng nguồn nhân lực du lịch so với yêu cầu của ngành, của doanh nghiệp và xã hội.

3. Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịchViệt Nam phục vụ phát triển du lịch tiểu vùng sông Mê Kông

3.1.Nâng cao nhận thức và dự báo đúng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực

Nhu cầu nhân lực ngành du lịch ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng với cơ cấu phải hợp lý hơn theo yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển du lịch và xu thế phát triển khoa học, công nghệ khi nước ta hội nhập quốc tế sâu, toàn diện trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức. Để có thể phát triển nguồn nhân lưc du lịch Việt Nam hợp lý, trước hết cần dự báo thị chính xác thị trường phát triển du lịch, từ đó dự báo tổng nhu cầu nhân lực cho ngành du lịcu lịch Việt Nam thuyên chuyển sang các nước, các ngành khác (trong bối cảnh gia nhập ASEM), trên cơ sở đó xác định nhu cầu nhân lực du lịch cần đào tạo 

Đổi mới nhận thức, tăng cường tuyên truyền về đào tạo, phát triển và sử dụng nhân lực trong ngành du lịch. Tăng cường truyền thông về đào tạo, phát triển nhân lực trong ngành du lịch thông qua các hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức của đại bộ phận xã hội về hướng nghiệp và dạy nghề du lịch.

3.2. Xây dựng và phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý

Tiếp tục duy trì, đưa ra các chính sách hỗ trợ, đãi ngộ để phát triển các cơ sở đào tạo nhân lực du lịch đang có hiệu quả, khuyến khích mở những cơ sở đào tạo du lịch ở các doanh nghiệp, ngoài công lập và có vốn đầu tư của nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan xây dựng quy định chuẩn trường đào tạo về du lịch, tiến hành rà soát và thống nhất chương trình khung cho các cơ sở đào tạo chuyên ngành du lịch.

Phát triển, xây dựng đội ngũ giảng viên du lịch bằng nhiều chính sách khác nhau, bên cạnh công tác đào tạo trong nước, cần có những chính sách khuyến khích, ưu tiên để tạo điều kiện cho các giáo viên ra nước ngoài học tập, nâng cao trình độ về du lịch như hỗ trợ tiền học phí, liên kết với các trường ở những nước có ngành du lịch phát triển để gửi giáo viên sang học tập. Bổ sung lượng giáo viên du lịch thông qua việc kêu gọi, thu hút các chuyên gia quản lý du lịch, các cán bộ ở doanh nghiệp du lịch… cùng tham gia công tác đào tạo du lịch, tập trung và sử dụng có hiệu quả kiến thức, kinh nghiệm của các nhà khoa học trong nước, nước ngoài cho phát triển nhân lực ngành du lịch. Tạo điều kiện để các thành phần trong xã hội có thể tham gia phát triển nhân lực ngành du lịch, đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, góp ý kiến cho chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch đào tạo về du lịch

3.3. Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo hướng nâng cao kỹ năng thực hành cho nguồn nhân lực ngành du lịch

Hiện nay, nhân lực du lịch Việt nam đang còn thiếu và yếu nhiều kỹ năng thực hành, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp phục vụ du khách quốc tế, vì vậy trong chương trình đào tạo của các cơ sở cần gia tăng giảng dạy kỹ năng thực hành nhằm hướng nâng cao kỹ năng thực hành để đạt được sự chuyên nghiệp, tiêu chuẩn mang tầm khu vực và quốc tế.

Hiện nay, Tổng cục Du lịch cũng đã đưa ra bộ Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam làm tiêu chuẩn phục vụ cho việc giảng dạy tại các trường đào tạo ngành du lịch. Vì vậy các cơ sở đào tạo cần áp dụng và thống nhất trong quá trình giảng dạy, phải được xem là kim chỉ nam trong đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch.

Cần tiến hành thống nhất công bố chuẩn chất lượng đầu ra của đào tạo nhân lực du lịch giữa các đơn vị liên quan như: Bộ Giáo dục – Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Các cơ sở đào tạo du lịch Việt Nam cần tham khảo, học tập kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chương trình, giáo trình môn học. Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo du lịch các cấp đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa.

Tiếp tục tăng cường thu hút vốn, công nghệ tiên tiến nước ngoài phục vụ cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch, xây dựng các dự án đào tạo để thu hút vốn ODA, FDI. Đề xuất các chính sách về liên kết đào tạo nhân lực của các cơ sở đào tạo trong nước với các trường, các tổ chức đào tạo quốc tế nhằm tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo du lịch trong nước hợp tác song phương, đa phương với các cơ sở đào tạo quốc tế, trong Mạng lưới cơ sở đào tạo du lịch ASEAN (ATTEN), Mạng lưới cơ sở đào tạo du lịch Châu Á - Thái Bình Dương (APETIT)...

3.4. Hoàn thiện hệ thống chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch

Các cấp, ban ngành từ trung ương đến địa phương trước hết cần rà soát lại các chính sách đã ban hành về du lịch và phát triển nhân lực du lịch, từ đó triển khai thực hiện có hiệu quả. Bên cạnh đó, trên cơ sở tham mưu của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, các cơ sở du lịch, bổ sung kịp thời các chính sách cần thiết nhằm ngày càng hoàn thiện hơn công tác đào tạo và phát triển nhân lực du lịch của đất nước. Ví dụ như đề ra các ưu đãi, khuyến khích về thuế, ưu tiên cơ hội đầu tư, cơ hội vay vốn… đối với các doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực nhằm phát huy vai trò của doanh nghiệp du lịch trong hoạt động đào tạo, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề và chương trình, giáo trình đào tạo, hỗ trợ người học về kinh phí và hoạt động thực hành học tập, sử dụng đầu ra trong công tác đào tạo

4. Kết luận

Gia nhập hệ thống du lịch tiểu vùng sông Mê Kông mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, du lịch Việt Nam. Để tận dụng được lợi thế này, Việt Nam cần chuẩn bị và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp khác nhau, trong đó vấn đề chuẩn bị nhân lực nói chung và nhân lực cho ngành du lịch nói riêng là điểm mấu chốt. Để đáp ứng được nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển du lịch tiểu vùng sông Mê Kông thì công tác đào tạo và phát triển nhân lực du lịch Việt cần phải được xây dựng kế hoạch và lộ trình triển khai, áp dụng một cách đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, nhằm hình thành, phát triển đội ngũ nhân lực có chất lượng cao cho ngành, cho đất nước. trong đó việc dự báo đúng nhu cầu đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cũng như đề ra các chính sách về thu hút nhân lực và đào tạo nhân lực du lịch là những giải pháp cơ nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu trong lĩnh vực quan trọng này

Tài liệu tham khảo

[1] Võ Văn Thành (2015), Tổng quan du lịch,  NXB Văn hóa nghệ thuật.

[2] Báo cáo ngành du lịch Việt Nam năm 2015, Tổng kết ngành du lịch Việt Nam năm 2015, truy cập ngày 01 tháng 02 năm 2017 http://vietdata.vn/tong-ket-nganh-du-lich-viet-nam-nam-2015-1888570143

[3] Viện nghiên cứu phát triển du lịch (2015) Nhu cầu nhân lực du lịch giai đoan 2011 - 2020

[4] Thu Dịu (), Các nước Tiểu vùng sông Mê Kông hợp tác phát triển nguồn lực du lịch, truy cập ngày 22/2/2017 http://baohaiquan.vn/ 

[5] Lưu Đức Kế (2016)Tọa đàm “Giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trở thành Ngành kinh tế mũi nhọn” vào tháng 9/2016

 

Copyright © 2013. Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Hà Tĩnh Rights Reserved.


Facebook twitter youtube